Giá cả nông sản

Thị trường nông sản 14/4: Cà phê, sầu riêng tăng nhẹ

HẢI ĐÔNG 14/04/2026 08:36

Thị trường nông sản ngày 14/4/2026 cho thấy, trong khi cà phê và sầu riêng ghi nhận đà phục hồi tích cực về giá nhờ lực cầu mới, các mặt hàng như lúa gạo, hồ tiêu và heo hơi lại cho thấy xu hướng đi ngang hoặc chỉ biến động nhẹ tại thị trường nội địa.

thi-truong-nong-san-ngay-14042026.jpg
Thị trường nông sản ngày 14/4/2026 cho thấy, cà phê và sầu riêng ghi nhận đà phục hồi tích cực về giá nhờ lực cầu mới

Giá sầu riêng bật tăng mạnh tay ở nhóm hàng tuyển

Tâm điểm của thị trường nông sản ngày 14/4 tập trung vào mặt hàng sầu riêng khi các kho thu mua đồng loạt điều chỉnh tăng giá.

Đáng chú ý nhất là sầu riêng Ri6 loại A tại khu vực ĐBSCL với mức tăng từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg, đẩy giá giao dịch lên ngưỡng 90.000 đến 105.000 đồng/kg.

Các phân khúc thấp hơn của dòng Ri6 cũng giữ giá tốt, với loại B dao động 75.000 đến 90.000 đồng/kg và loại C từ 55.000 đến 65.000 đồng/kg. Hàng dạt C-D ở mức 48.000 đến 60.000 đồng/kg.

Ở phân khúc cao cấp, sầu riêng Thái và Musang King tiếp tục duy trì mặt bằng giá đắt đỏ. Sầu riêng Thái VIP loại A được săn đón với mức giá 160.000 đến 165.000 đồng/kg tùy tỷ lệ trái chuẩn.

Các dòng sầu Thái khác như VIP loại B và loại C lần lượt giao dịch ở mốc 115.000 đến 130.000 đồng/kg và 80.000 đến 90.000 đồng/kg. Đối với sầu Thái mẫu dễ, loại A đạt 115.000 đến 125.000 đồng/kg, bỏ xa các dòng hàng lỗi hoặc hàng dạt vốn chỉ quẩn quanh mức 40.000 đến 75.000 đồng/kg.

Dòng Musang King tiếp tục khẳng định vị thế với 135.000 đến 142.000 đồng/kg cho hàng loại A và 115.000 đến 122.000 đồng/kg cho loại B. Sầu riêng Chuồng Bò loại A cũng neo vững ở mức 85.000 đến 95.000 đồng/kg.

Cà phê trong nước nhích nhẹ, thế giới tạm 'nghỉ ngơi'

Sau chuỗi ngày giảm điểm, thị trường cà phê nội địa ngày 14/4 đã cho thấy dấu hiệu điều chỉnh kỹ thuật với mức tăng nhẹ từ 200 đến 300 đồng/kg. Mặt bằng chung hiện dao động quanh ngưỡng 85.500 đến 86.000 đồng/kg.

Nhóm các tỉnh Tây Nguyên ghi nhận sự đồng thuận về giá, trong đó Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 300 đồng/kg để lập đỉnh khu vực tại 86.000 đồng/kg. Khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) cũng tiến lên mốc 86.000 đồng/kg sau khi cộng thêm 200 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, bức tranh giao dịch mang gam màu tĩnh lặng khi cả hai sàn đều không ghi nhận sự thay đổi về giá. Tâm lý thận trọng đang bao trùm khiến cả Robusta và Arabica chưa thể xác lập được xu hướng tiếp theo.

Tại London, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn tháng 5/2026 neo chắc ở mức 3.324 USD/tấn. Các kỳ hạn xa hơn như tháng 7, tháng 9 và tháng 11/2026 lần lượt giữ nguyên mức 3.239 USD/tấn, 3.179 USD/tấn và 3.138 USD/tấn. Thậm chí kỳ hạn đầu năm 2027 cũng đứng im ở mốc 3.100 USD/tấn.

Cùng chung kịch bản, giá cà phê Arabica trên sàn New York giao tháng 5/2026 chững lại ở mức 300,10 cent/lb. Các hợp đồng giao tháng 7 và tháng 9/2026 lần lượt ổn định tại 295,90 cent/lb và 281,10 cent/lb. Các kỳ hạn giao xa vào cuối năm 2026 và đầu 2027 cũng đi ngang quanh vùng 267,00 đến 271,25 cent/lb.

Hồ tiêu nội địa chững lại, thị trường quốc tế ảm đạm

Trái ngược với sự khởi sắc của cà phê, giá tiêu nội địa ngày 14/4 bước vào trạng thái "ngủ đông" khi đi ngang trong khoảng 138.500 đến 139.500 đồng/kg.

Đắk Lắk tiếp tục là địa phương neo giá cao nhất với 139.500 đồng/kg, theo sát là khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) ở mức 139.000 đồng/kg. Mức giá 138.500 đồng/kg được ghi nhận đồng loạt tại TP.HCM, Gia Lai và Đồng Nai.

Trên bình diện quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam duy trì ổn định ở mức 6.100 đến 6.200 USD/tấn, trong khi tiêu trắng đạt 9.000 USD/tấn.

Số liệu từ các quốc gia đối thủ cũng không có nhiều biến động. Tiêu đen Indonesia giữ mốc 7.074 USD/tấn, Malaysia đạt 9.300 USD/tấn và Brazil ở mức 6.150 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia và Malaysia lần lượt niêm yết ở mức 9.320 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

Giao dịch lúa gạo ảm đạm, áp lực từ chi phí logistics

Tại vựa lúa ĐBSCL, không khí giao dịch ngày 14/4 duy trì sự ảm đạm. Cập nhật từ Sở NN-MT tỉnh An Giang cho thấy, giá lúa tươi có sự biến động hẹp, với OM 18 và Đài Thơm 8 cùng mức 5.800 đến 6.100 đồng/kg. Các giống lúa khác như OM 5451, IR 50404 và OM 34 dao động từ 5.100 đến 5.600 đồng/kg.

Ở mảng gạo nguyên liệu xuất khẩu, giá ghi nhận sự sụt giảm nhẹ. Gạo IR 504 mất 50 đồng/kg, lùi về 8.000 đến 8.050 đồng/kg. Gạo OM 18 giảm mạnh hơn với 200 đồng/kg, xuống còn 8.700 đến 8.900 đồng/kg.

Các dòng gạo khác như Đài Thơm 8, OM 5451, CL 555 và Sóc thơm tiếp tục giữ giá từ 7.500 đến 9.400 đồng/kg tùy loại.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm xuất khẩu của nước ta đang chào bán quanh mốc 440 đến 445 USD/tấn, gạo Jasmine đạt 452 đến 456 USD/tấn, và gạo 100% tấm ở mức 333 đến 337 USD/tấn.

Bức tranh lúa gạo thế giới hiện chịu sức ép lớn từ xung đột địa chính trị và chi phí logistics neo cao. Gạo 5% tấm của Thái Lan và Ấn Độ hiện cùng chào bán ở mức 336 đến 340 USD/tấn, cho thấy tính cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế.

Giá mủ cao su nội địa bình ổn giữa bão giá thế giới

Thị trường cao su thế giới đang trải qua giai đoạn dò hướng với các diễn biến trái chiều.

Tại Nhật Bản, sàn Tocom ghi nhận áp lực bán với các hợp đồng kỳ hạn đồng loạt suy giảm, trong đó kỳ hạn tháng 4/2026 giảm xuống 377 JPY/kg.

Ngược lại, dòng tiền lại tìm đến các sàn châu Á khác. Sàn SHFE Thượng Hải chứng kiến sắc xanh ở hầu hết các kỳ hạn, với tháng 5/2026 đạt 16.690 CNY/tấn. Sàn SGX Singapore cũng ghi nhận đà tăng nhẹ, hợp đồng tháng 5/2026 đạt 203.20 Cent/kg.

Bỏ qua những biến động ngoại biên, giá thu mua mủ cao su trong nước ngày 14/4 vẫn đứng vững. Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg và mủ đông tạp loại 1 là 459 đồng/kg.

Tại Phú Riềng, mủ nước duy trì 420 đồng/TSC/kg, mủ tạp đạt 390 đồng/DRC/kg. Công ty Cao su Bà Rịa phân cấp giá mủ nước theo độ TSC từ 442 đến 452 đồng/độ TSC/kg, đồng thời thu mua mủ đông từ 13.500 đến 18.000 đồng/kg.

Đơn vị Bình Long chốt giá mủ nước tại nhà máy là 432 đồng/độ TSC/kg và mủ tạp 60% DRC ở mức 14.000 đồng/kg.

Heo hơi miền Nam neo cao, miền Bắc giảm nhẹ

Giá heo hơi ngày 14/4 cho thấy sự ổn định ở khu vực phía Nam. Cụ thể, tại Đồng Nai và TP.HCM có mức giá khoảng 69.000 đồng/kg. Các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long theo sát ở mức 68.000 đồng/kg. Mức giá thấp nhất vùng là 66.000 đồng/kg thuộc về An Giang và Cần Thơ.

Trong khi đó, miền Bắc xuất hiện nhịp giảm nhẹ 1.000 đồng/kg tại Tuyên Quang, đưa giá khu vực này dao động từ 63.000 đến 65.000 đồng/kg. Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên là ba địa phương giữ giá tốt nhất.

Tại miền Trung và Tây Nguyên, thị trường có thêm trợ lực khi Đà Nẵng tăng 1.000 đồng/kg lên 64.000 đồng/kg. Dải giá của khu vực này trải rộng từ 62.000 đồng/kg tại Hà Tĩnh đến 68.000 đồng/kg tại Đắk Lắk và Lâm Đồng.

Mọi diễn biến hiện tại cho thấy nguồn cung nội địa đang khá cân bằng với nhu cầu tiêu thụ trước kỳ nghỉ lễ sắp tới.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 14/4: Cà phê, sầu riêng tăng nhẹ
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO