Thị trường nông sản 13/9: Cà phê đồng loạt quay đầu giảm, lúa gạo và hồ tiêu giao dịch trầm lắng
Thị trường nông sản sáng 13/9 chứng kiến những nhịp điệu trái chiều khi giá cà phê chịu áp lực điều chỉnh giảm theo xu hướng thế giới. Trong khi đó, hồ tiêu và lúa gạo duy trì trạng thái đi ngang trầm lắng, còn sầu riêng tiếp tục phân hóa mạnh về giá dựa trên tiêu chuẩn chất lượng.
Cà phê chịu áp lực điều chỉnh
Thị trường nông sản sáng 13/9 ghi nhận giá cà phê trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm 500 đồng/kg so với phiên giao dịch trước đó

Theo giacaphe.com, tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), giá cà phê được thu mua ở mức 95.300 đồng/kg. Tuy giảm 500 đồng/kg so với hôm qua, nhưng vẫn tiếp tục là nơi có mức giá thu mua cao nhất.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giá 95.200 đồng/kg, cũng giảm 500 đồng/kg
Trong khi đó, khu vực Lâm Đồng cũ tiếp tục là địa phương có giá thu mua thấp nhất khu vực, lùi về mức 94.700 đồng/kg sau khi giảm 500 đồng/kg
Nhìn chung, mặt bằng giá cà phê trong nước hiện dao động trong khoảng 94.700 đến 95.300 đồng/kg

Diễn biến nội địa hoàn toàn đồng pha với xu hướng sụt giảm của thị trường thế giới khi cả hai chủng loại Robusta và Arabica đều phủ sắc đỏ trong phiên giao dịch gần nhất
Tại sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 giảm 29 USD/tấn, tương đương 0,82%, lùi xuống còn 3.525 USD/tấn
Trên sàn New York, Arabica giao tháng 12/2026 giảm 2,45 US cent/pound, tương đương 0,85%, xuống 285,7 US cent/pound


Hồ tiêu lặng sóng, duy trì vùng giá tốt
Trái ngược với đà giảm của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước không ghi nhận sự điều chỉnh mới. Giá hồ tiêu tiếp tục dao động trong khoảng 137.000 đến 141.000 đồng/kg
Theo giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) vẫn duy trì vị thế dẫn đầu với mức giá 141.000 đồng/kg.
Đắk Lắk bám sát ngay phía sau với mức 140.000 đồng/kg
Trên thị trường quốc tế, diễn biến thương mại hồ tiêu cũng tương đối trầm lắng sau những biến động trước đó
Theo số liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.936 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ vững mức 5.750 USD/tấn và Malaysia duy trì ở mức 9.300 USD/tấn
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục neo vững vàng trong khoảng 5.990 đến 6.050 USD/tấn
Đối với tiêu trắng, sản phẩm Muntok của Indonesia giao dịch ở mức 9.496 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt giữ giá 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn
Thị trường nông sản ghi nhận giá lúa gạo vẫn giao dịch chậm
Khảo sát từ một số nguồn, tại khu vực ĐBSCL, thị trường lúa gạo biến động rất nhẹ trong bối cảnh giao dịch mua bán diễn ra chậm chạp
Cụ thể, giá lúa tươi nhìn chung ổn định, với dòng OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động từ 6.200 đến 6.400 đồng/kg
Ở phân khúc nguyên liệu xuất khẩu, giá gạo CL 555 ghi nhận mức tăng nhẹ 50 đồng/kg, vươn lên 8.700 đến 8.750 đồng/kg
Tuy nhiên, các loại gạo khác chủ yếu đi ngang, với IR 504 dao động 8.650 đến 8.700 đồng/kg. OM 5451 ở mức 9.300 đến 9.400 đồng/kg và OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg
Trên kênh xuất khẩu, giá gạo Việt Nam duy trì sự ổn định, với gạo thơm 5% tấm chào bán ở mức 445 đến 450 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm từ 367 đến 371 USD/tấn
Gạo Jasmine chốt giá 534 đến 538 USD/tấn
Sầu riêng phân hóa sâu sắc về giá
Thị trường sầu riêng sáng 13/9 cho thấy xu hướng tích cực tại Đắk Lắk nhưng lại tiếp tục phân hóa rất rõ nét theo chất lượng và phẩm cấp
Sầu Thái cơm chuẩn loại A tại Đắk Lắk có nơi tăng 5.000 đồng/kg, vươn lên mốc 95.000 đồng/kg. Loại B dao động 63.000 đến 75.000 đồng/kg
Giống Ri6 loại A tại khu vực này đạt 35.000 đồng/kg, loại B ở mức 20.000 đồng/kg
Tại ĐBSCL, sầu Thái loại A có giá 73.000 đến 78.000 đồng/kg, loại B từ 53.000 đến 58.000 đồng/kg
Ở Gia Lai, sầu Thái loại A cơm chuẩn đạt 80.000 đến 83.000 đồng/kg. Tại Lâm Đồng mức giá cho loại này lên đến 90.000 đồng/kg
Cao su nội địa bình ổn trước sóng gió quốc tế
Thị trường cao su tại thị trường trong nước sáng nay vẫn duy trì trạng thái bình ổn.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang, giá mủ nước loại 1 và loại 2 được thu mua lần lượt ở mức 463 đồng/TSC/kg và 458 đồng/TSC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa giữ mức giá mủ nước từ 442 đến 452 đồng/độ TSC/kg tùy theo nồng độ. Tại Công ty Cao su Phú Riềng, mủ nước chốt ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg
Trên thị trường thế giới, xu hướng tăng đầu tuần đã nhanh chóng bị thu hẹp do áp lực bán ra tại hai sàn Thượng Hải (SHFE) và Singapore (SGX)
Tại Thượng Hải, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 1/2027 đã quay đầu lùi về 19.150 nhân dân tệ/tấn sau khi tăng lên 19.680 nhân dân tệ/tấn.
Tại Singapore, hợp đồng TSR20 tháng 10/2026 cũng giảm về 241 US cent/kg sau nhịp vọt lên 249,9 US cent/kg
Riêng sàn Nhật Bản ghi nhận sự phân hóa khi hợp đồng RSS3 tháng 9/2026 tăng lên 483,1 yen/kg.
Tuy nhiên, sức tiêu thụ và triển vọng kinh tế toàn cầu hiện vẫn chưa đủ vững chãi để duy trì đà phục hồi bền vững cho ngành hàng này


