Thị trường nông sản 10/6: Giá cà phê khởi sắc, hồ tiêu và lúa gạo duy trì nền giá ổn định
Thị trường nông sản sáng 10/6/2026 chứng kiến sự phục hồi tích cực của giá cà phê trong nước theo đà thế giới và tín hiệu vui từ mặt hàng sầu riêng xuất khẩu. Trong khi đó, hồ tiêu cùng lúa gạo duy trì nền giá ổn định, còn thị trường heo hơi ghi nhận xu hướng giảm cục bộ tại miền Trung và miền Nam.
Cà phê phục hồi mạnh mẽ
Thị trường nông sản sáng 10/6 ghi nhận giá cà phê trong nước tăng từ 300 đến 500 đồng/kg.
Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, giá giao dịch hiện dao động trong khoảng 85.000 đến 85.600 đồng/kg.
Cụ thể, khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương giữ mức giá thu mua cao nhất cả nước khi tăng thêm 300 đồng/kg, vươn lên mốc 85.600 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá mặt hàng này đồng loạt tăng 400 đồng/kg để giao dịch ở mức 85.500 đồng/kg.
Riêng khu vực Lâm Đồng (cũ) ghi nhận mức tăng mạnh nhất 500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 85.000 đồng/kg nhưng đây vẫn là mốc giá thấp nhất toàn vùng Tây Nguyên.
Trên thị trường quốc tế, diễn biến giá tiếp tục phân hóa. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 7/2026 trên sàn London tăng 17 USD/tấn, tương đương 0,51%, lên mức 3.333 USD/tấn.
Hợp đồng giao tháng 9/2026 cũng tăng mạnh 27 USD/tấn để đạt 3.260 USD/tấn. Đây là phiên phục hồi đáng chú ý sau khi robusta mất giá hơn 5% trong tuần trước.
Trái lại, thị trường arabica trên sàn New York tiếp tục suy yếu khi hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 0,6 US cent/pound xuống mức 245,9 US cent/pound và kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 0,45 US cent/pound còn 241,65 US cent/pound.

Hồ tiêu duy trì chuỗi ngày bình ổn
Theo cập nhật từ giatieu.com, thị trường hồ tiêu trong nước sáng nay tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang sau nhiều tuần biến động mạnh.
Tại các vùng nguyên liệu trọng điểm, giá tiêu hiện dao động từ 137.000 đến 140.000 đồng/kg.
Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn dẫn đầu cả nước với mức thu mua đạt 140.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu ở khu vực Bà Rịa Vũng Tàu (TP.HCM) hiện được giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg. Đồng Nai và Gia Lai tiếp tục giữ mức 137.000 đồng/kg, mức thấp nhất trong nhóm.
Trên bình diện quốc tế, giá hồ tiêu ổn định tại các quốc gia sản xuất lớn.
Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy tiêu đen Indonesia neo ở mức 7.091 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 quanh mức 6.025 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.350 USD/tấn.
Riêng tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l giữ vững mốc 6.100 đến 6.200 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, hàng Muntok của Indonesia chào bán giá 9.151 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Malaysia và Việt Nam lần lượt neo ở 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
Thị trường nông sản ghi nhận lúa gạo giao dịch trầm lắng
Theo cập nhật từ Sở NN-MT tỉnh An Giang, giá lúa tươi ngày 10/6 không có nhiều biến động.
Cụ thể, lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động quanh mốc 6.400 đến 6.500 đồng/kg.
Lúa OM 5451 giữ mức 5.700 đến 5.800 đồng/kg, lúa IR 50404 ở mức 5.500 đến 5.600 đồng/kg và lúa OM 34 ở mức 5.100 đến 5.200 đồng/kg.
Đối với mặt hàng gạo nguyên liệu và thành phẩm, giá gạo IR 504 dao động từ 8.700 đến 10.900 đồng/kg tùy loại.
Gạo nguyên liệu CL 555 và Đài Thơm 8 nằm trong khoảng 9.100 đến 9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu OM 5451 đạt 9.500 đến 9.600 đồng/kg, gạo OM 18 ở mức 8.700 đến 8.850 đồng/kg, trong khi các dòng OM 380 và Sóc thơm neo ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam có sự điều chỉnh giảm nhẹ so với cuối tuần trước.
Gạo Jasmine chào bán ở mức 509 đến 513 USD/tấn sau khi giảm 6 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động từ 495 đến 497 USD/tấn, còn gạo 100% tấm giảm 1 USD/tấn xuống mức 343 đến 347 USD/tấn.
Cùng thời điểm, giá gạo 5% tấm của Thái Lan đạt 459 đến 463 USD/tấn và gạo Ấn Độ cùng loại chào bán ở mức 340 đến 344 USD/tấn.
Sầu riêng phân hóa, hàng đạt chuẩn xuất khẩu tăng giá
Cập nhật từ giasaurieng.net cho thấy, thị trường sầu riêng tại các kho thu mua xuất hiện sự phân hóa rõ rệt.
Đáng chú ý nhất là giống Ri6 tại khu vực Đồng Nai ghi nhận mức tăng nhẹ từ 1.000 đến 2.000 đồng/kg. Các dòng sầu riêng cao cấp như Musang King và Black Thorn tiếp tục giữ giá cao dù lượng giao dịch chưa thực sự sôi động.
Cụ thể, tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Thái loại A có giá 70.000 đến 73.000 đồng/kg, loại B ở mức 53.000 đồng/kg và hàng lỗi đạt 68.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 loại A giao dịch quanh 40.000 đến 43.000 đồng/kg, loại B từ 25.000 đến 28.000 đồng/kg. Giống Musang King loại A vươn lên mốc 78.000 đến 83.000 đồng/kg.
Khu vực Đồng Nai chứng kiến sầu Thái loại A chạm mốc 80.000 đến 87.000 đồng/kg. Hàng lỗi dạt dao động từ 60.000 đến 69.000 đồng/kg, còn hàng kem thu mua ở mức 18.000 đến 20.000 đồng/kg.
Sầu Riêng Ri6 tại đây được chốt giá 40.000 đến 42.000 đồng/kg cho loại A. Đặc biệt, sầu riêng Black Thorn loại A tại Đồng Nai lập đỉnh với mức giá 110.000 đồng/kg.
Tại Tây Ninh, sầu Thái loại A có giá 73.000 đồng/kg và Musang King loại A đạt 82.000 đồng/kg.
Giá heo hơi hạ nhiệt cục bộ
Thị trường heo hơi sáng 10/6 tiếp tục xu hướng giảm cục bộ 1.000 đồng/kg tại miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam, trong khi miền Bắc duy trì sự ổn định.
Cụ thể, tại Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ và Hưng Yên đang thu mua với giá 68.000 đồng/kg, mức cao nhất toàn quốc. Các tỉnh thành còn lại của miền Bắc đồng loạt duy trì giá 67.000 đồng/kg.
Tại miền Trung và Tây Nguyên, Đắk Lắk cùng Khánh Hòa đồng loạt giảm giá xuống 63.000 đồng/kg, trở thành nhóm địa phương có mức giá thấp nhất khu vực.
Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh vẫn giữ đỉnh ở mức 67.000 đồng/kg. Các địa phương như Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Lâm Đồng đi ngang ở mốc 64.000 đồng/kg.
Còn tại khu vực miền Nam, giá heo hơi tại TP.HCM lùi về mức 64.000 đồng/kg sau khi giảm 1.000 đồng/kg, ngang bằng với mức thu mua tại Tây Ninh và Cần Thơ.
Đồng Nai tiếp tục là tỉnh có giá thu mua tốt nhất khu vực ở mức 65.000 đồng/kg. Cà Mau hiện là địa phương có giá heo hơi thấp nhất cả nước, neo ở mức 62.000 đồng/kg, trong khi Đồng Tháp, An Giang và Vĩnh Long cùng giao dịch quanh mốc 63.000 đồng/kg.
Cao su nguyên liệu trong nước bình ổn, quốc tế trái chiều
Thị trường cao su trong nước sáng nay duy trì đà đi ngang vững chắc.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang, mủ nước loại 1 và loại 2 được thu mua lần lượt ở mức 463 và 458 đồng/TSC/kg, trong khi mủ đông tạp loại 1 chốt giá 459 đồng/kg.
Công ty Cao su Phú Riềng niêm yết mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá mủ nước đạt từ 442 đến 452 đồng/độ TSC/kg tùy nồng độ, còn mủ tạp dao động từ 13.500 đến 18.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bình Long cũng giữ nguyên giá mủ nước tại nhà máy ở mức 545 đồng/độ TSC/kg.
Còn trên thị trường thế giới, bức tranh giao dịch xuất hiện những diễn biến trái chiều.
Tại Nhật Bản, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM suy giảm ở hầu hết các kỳ hạn do tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước nhu cầu tiêu thụ chưa bứt phá.
Hợp đồng giao tháng 6/2026 lùi 0,59% về mức 410 JPY/kg. Ngược lại, sàn SHFE Thượng Hải và SGX Singapore phát đi tín hiệu phục hồi ở một số hợp đồng giao xa, kỳ vọng vào việc cải thiện nhu cầu công nghiệp.
Cụ thể, hợp đồng giao tháng 6/2026 trên sàn SHFE tăng 0,72% lên 17.520 CNY/tấn và hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 7/2026 tại Singapore nhích nhẹ 0,31% lên mốc 225,80 Cent/kg.


