Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 1/9: Cà phê tăng nhẹ phiên đầu tháng, nhiều mặt hàng giữ nhịp đi ngang

HẢI ĐÔNG 01/09/2026 09:48

Thị trường nông sản bước vào ngày đầu tháng 9 với sắc xanh trở lại trên thị trường cà phê nội địa, trong khi mặt bằng giá hồ tiêu, lúa gạo và cao su duy trì thế giằng co ổn định, riêng sầu riêng tiếp tục phân hóa sâu theo từng phân loại và vùng trồng.

Cà phê nội địa bật tăng trở lại

Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận cà phê trong nước khởi sắc nhẹ ngay ngày đầu tháng 9. Giá tại các vùng trồng trọng điểm đồng loạt tăng 400 đồng/kg. Hiện khoảng giá thu mua phổ biến dao động trong khoảng 95.000 đến 95.700 đồng/kg.

Theo giacaphe.com, tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng được thương lái nâng lên 95.500 đồng /kg. Khu vực Lâm Đồng cũ cũng ghi nhận mức tăng tương ứng lên 95.000 đồng/kg.

Còn tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục giữ vững vị trí cao nhất thị trường khi chạm ngưỡng 95.700 đồng/kg, sau nhịp điều chỉnh tăng nhẹ đầu tháng 9.

Trên thị trường thế giới, sáng 1/9, hai sàn giao dịch quốc tế chứng kiến sự phân hóa rõ nét.

Cụ thể, tại sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 9/2026 tăng 0,91%, chốt phiên ở mức 3.550 USD/tấn. Kỳ hạn giao tháng 11/2026 cũng nhích nhẹ 0,17%, đạt 3.535 USD/tấn.

Ngược lại, giá Arabica trên sàn New York chịu áp lực chốt lời khiến hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 0,56% xuống 343,90 cent/lb. Kỳ hạn giao tháng 12/2026 lùi 0,43% về mốc 311,50 cent/lb.

Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận cà phê trong nước khởi sắc nhẹ ngay ngày đầu tháng 9.
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận cà phê trong nước khởi sắc nhẹ ngay ngày đầu tháng 9.

Hồ tiêu duy trì đà đi ngang trên diện rộng

Thị trường hồ tiêu trong nước ngày 1/9 tiếp tục chuỗi ngày ổn định, chưa xuất hiện biến động mới về giá. Mặt bằng giá thu mua tiêu xô nội địa dao động trong khoảng 135.000 đến 137.000 đồng /kg.

Theo giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục neo ở đỉnh cao nhất với mức thu mua 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk bám sát phía sau khi giao dịch ở mốc 136.500 đồng/kg.

Các địa phương còn lại gồm Gia Lai, Đồng Nai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) đồng loạt duy trì giá thu mua ở ngưỡng 135.000 đồng/kg.

Bức tranh xuất khẩu hồ tiêu toàn cầu cũng giữ xu hướng ổn định. Theo dữ liệu quốc tế, giá tiêu đen Lampung của Indonesia giao dịch ở mức 6.897 USD/tấn. Tiêu trắng Muntok đạt 9.443 USD /tấn.

Malaysia chào bán tiêu đen Kuching ASTA ở mức 9.300 USD/tấn và tiêu trắng ASTA ở ngưỡng 12.200 USD/tấn. Tại Brazil, tiêu đen ASTA 570 neo ở mốc 5.800 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l giao dịch ở mức 5.990 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 6.050 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu giữ mức 8.400 USD/tấn.

Thị trường nông sản ghi nhận giá lúa gạo trầm lắng trong kỳ nghỉ lễ

Theo khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com, tại khu vực ĐBSCL, thị trường lúa gạo bước vào phiên đầu tháng 9 với trạng thái yên ắng do bước vào kỳ nghỉ lễ Quốc khánh. Hoạt động giao dịch và thu gom nguyên liệu chậm lại.

Mặt bằng giá lúa tươi được dự báo ít biến động. Nhóm giống lúa chất lượng khá như OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục duy trì mức giá cao từ 6.700 đến 6.800 đồng/kg.

Giống OM 5451 giữ quanh khoảng 6.500 đến 6.600 đồng/kg. IR 50404 dao động từ 6.300 đến 6.400 đồng/kg. OM 34 neo ở vùng thấp hơn từ 5.900 đến 6.000 đồng/kg.

Ở phân khúc gạo nguyên liệu, sau các đợt điều chỉnh trước đó, giá gạo IR 504 và CL 555 tạm thời đi ngang ở mức 8.900 đến 8.950 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam chưa ghi nhận diễn biến mới.

Gạo Jasmine được chào bán quanh ngưỡng 534 đến 538 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm từ 470 đến 480 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm giữ mức 438 đến 442 USD/tấn.

So với các đối thủ, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan chào bán cao hơn với 453 đến 457 USD/tấn. Pakistan ở mức 406 đến 410 USD/tấn. Ấn Độ tiếp tục tạo áp lực cạnh tranh lớn ở phân khúc phổ thông khi giữ giá quanh 364 đến 368 USD/tấn.

Sầu riêng vẫn phân hóa theo chất lượng và vùng miền

Thị trường sầu riêng đầu tháng 9 không ghi nhận xu hướng tăng giảm đồng loạt mà vẫn có sự phân hóa theo chất lượng và vùng trồng.

Khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Ri6 loại A có giá 35.000 đến 40.000 đồng/kg. Sầu riêng Thái loại A đạt 68.000 đến 76.000 đồng/kg, loại B từ 48.000 đến 56.000 đồng/kg. Giống Musang King loại A giao dịch quanh 60.000 đến 70.000 đồng/kg.

Khu vực Đông Nam Bộ ghi nhận mức giá nhỉnh hơn ở một số phân khúc. Sầu riêng Ri6 loại A thu mua từ 35.000 đến 42.000 đồng/kg. Giống Thái loại A dao động 72.000 đến 82.000 đồng/kg, loại B từ 52.000 đến 62.000 đồng/kg. Musang King loại A đạt từ 65.000 đến 75.000 đồng/kg.

Tại khu vực Tây Nguyên, mặt bằng giá sầu riêng loại A duy trì ở mức cao nhất cả nước. Sầu riêng Thái loại A đạt từ 74.000 đến 86.000 đồng/kg. Sầu riêng Ri6 loại A neo ở mức 36.000 đến 40.000 đồng/kg, loại B từ 22.000 đến 30.000 đồng/kg. Riêng giống Musang King loại A đạt ngưỡng cao nhất từ 75.000 đến 80.000 đồng/kg.

Giá cao su nội địa đi ngang trước biến động thế giới

Thị trường cao su thế giới sáng nay ghi nhận những diễn biến trái chiều.

Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 trên Sàn giao dịch Osaka (Nhật Bản) tăng 1,18% lên 462,4 yên/kg.

Trên Sàn giao dịch Thượng Hải (Trung Quốc), giá cao su kỳ hạn tháng 9 tăng 0,59% lên 17.935 nhân dân tệ/tấn.

Cùng thời điểm, giá RSS3 xuất khẩu của Thái Lan giảm nhẹ còn 91,19 baht/kg. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 11 trên Sàn Giao dịch Singapore giảm 0,4% xuống 234,7 cent/kg.

Trái ngược với rung lắc quốc tế, thị trường mủ cao su nguyên liệu trong nước tiếp tục giữ mặt bằng ổn định.

Công ty Cao su Bình Long duy trì giá thu mua tại nhà máy ở mức 540 đồng /độ TSC/kg, giá tại đội sản xuất là 530 đồng /độ TSC /kg.

Tại Công ty Cao su MangYang, mủ nước được thu mua trong khoảng 458 đến 463 đồng/độ TSC tùy theo phân loại chất lượng. Mủ đông tạp duy trì ổn định từ 404 đến 459 đồng /độ DRC.

Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg, mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Còn tại Công ty Cao su Bà Rịa, cao su mủ nước loại 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên. Loại 2 có giá 447 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 1/9: Cà phê tăng nhẹ phiên đầu tháng, nhiều mặt hàng giữ nhịp đi ngang
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO