Thị trường hôm nay 11/3: Sầu riêng lập mặt bằng giá mới, heo hơi cùng hồ tiêu chững nhịp
Bức tranh thị trường nông sản ngày 11/3/2026 ghi nhận nhiều điểm sáng khi sầu riêng tiếp đà tăng mạnh mẽ. Ở chiều ngược lại, lúa gạo, hồ tiêu và heo hơi cho thấy sự chững lại với nền giá được giữ vững, trong khi mủ cao su thế giới có sự phân hóa nhẹ.

Cà phê quốc tế khởi sắc, trong nước duy trì ổn định
Thị trường cà phê ngày 11/3 tiếp tục mang đến tin vui khi sắc xanh bao phủ đồng loạt trên các sàn giao dịch quốc tế. Cụ thể, giá cà phê Robusta trên sàn London kỳ hạn giao tháng 1 năm 2026 nhích thêm 3 USD, đạt mức 3.830 USD mỗi tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica cũng nối gót đi lên trong các kỳ giao hàng. Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 3 năm 2026 tăng 4,15 cent, chạm mức 301,75 cent mỗi lb. Cùng chiều, hợp đồng giao tháng 12 năm 2026 tăng 1,25 cent, đạt mức 278,9 cent mỗi lb.
Đáng chú ý, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Arabica trên sàn Brazil ghi nhận mức tăng bứt phá. Kỳ hạn tháng 3 năm 2026 tăng mạnh 5,5 cent so với hôm qua, vọt lên mức 388,85 cent mỗi lb, trong khi kỳ giao hàng tháng 5 năm 2026 cũng tăng 1,55 cent, lên mức 350,55 cent mỗi lb.
Tại thị trường trong nước, trái ngược với diễn biến sôi động của thế giới, giá cà phê duy trì trạng thái ổn định. Hiện giá giao dịch nằm trong khoảng 96.300 đến 96.500 đồng mỗi kg tại các vùng trồng trọng điểm khu vực Tây Nguyên.
Chi tiết tại Đắk Lắk và Gia Lai, mức giá thu mua cùng ghi nhận ở mốc 96.500 đồng mỗi kg, đưa hai tỉnh này trở thành những địa phương có mức giá cà phê cao nhất cả nước hôm nay. Trong khi đó, tại tỉnh Lâm Đồng, giá giao dịch hiện neo ở mức 96.300 đồng mỗi kg.
Sầu riêng thiết lập mặt bằng giá mới
Thị trường sầu riêng hôm nay tiếp tục ghi nhận sự điều chỉnh giá thu mua tại các kho, trong đó sầu Thái VIP loại A tăng 5.000 đồng so với hôm qua, đạt mức 175.000 đồng mỗi kg. Các chủng loại khác vẫn duy trì ổn định ở mức cao.
Khảo sát tại khu vực ĐBSCL, đối với sầu riêng Thái, hàng VIP loại A hiện dao động từ 150.000 đến 175.000 đồng mỗi kg tùy thuộc vào chất lượng và tỷ lệ trái đạt chuẩn. Sầu riêng Thái loại B được thu mua từ 140.000 đến 150.000 đồng mỗi kg, trong khi hàng loại C nằm trong khoảng 68.000 đến 85.000 đồng mỗi kg. Đối với sầu Thái mẫu thường, loại A có giá 162.000 đến 165.000 đồng, loại B từ 140.000 đến 142.000 đồng, riêng loại C được để mở cho thương lượng.
Các dòng sầu Thái phân khúc thấp hơn như hàng dạt có giá 65.000 đồng, loại C và D quanh mốc 70.000 đồng, dạt nặng 50.000 đồng và sầu Thái kem chạm mức 22.000 đồng mỗi kg.
Với giống sầu riêng Ri6, khu vực ĐBSCL đang thu mua loại A ở mức 104.000 đến 110.000 đồng mỗi kg, loại B từ 85.000 đến 95.000 đồng và loại C từ 60.000 đến 65.000 đồng mỗi kg. Sầu riêng Ri6 phân loại C và D dao động từ 38.000 đến 42.000 đồng, trong khi hàng kem có giá 17.000 đến 22.000 đồng mỗi kg.
Bên cạnh đó, các giống sầu riêng đặc sản khác cũng giữ giá trị ấn tượng. Sầu riêng Musang King loại A hiện có giá 133.000 đồng mỗi kg, loại B từ 110.000 đến 120.000 đồng và hàng dạt nằm trong khoảng 60.000 đến 65.000 đồng mỗi kg.
Giống sầu Chuồng Bò loại A được giao dịch từ 85.000 đến 90.000 đồng, loại B từ 62.000 đến 75.000 đồng mỗi kg. Sầu riêng Sáu Hữu loại A đạt 70.000 đến 90.000 đồng, trong khi loại B vững giá ở mốc 65.000 đồng mỗi kg.
Lúa gạo giao dịch cầm chừng, xuất khẩu bình ổn
Thị trường lúa gạo khu vực ĐBSCL và cả nước hôm nay tiếp tục trạng thái ổn định, tiến độ giao dịch diễn ra khá chậm chạp.
Cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho thấy lúa OM 18 dao động từ 6.000 đến 6.100 đồng mỗi kg, lúa Đài Thơm 8 từ 6.100 đến 6.200 đồng, lúa IR 50404 đứng ở mức 5.500 đồng, lúa OM 5451 từ 5.800 đến 6.000 đồng, lúa OM 4218 từ 6.000 đến 6.200 đồng và lúa OM 34 từ 5.200 đến 5.400 đồng mỗi kg.
Trên thị trường gạo nguyên liệu, ngoại trừ gạo OM 5451 tăng 200 đồng lên mức 8.450 đến 8.600 đồng mỗi kg, các mặt hàng khác đều giữ giá. Gạo OM 380 dao động từ 7.500 đến 7.600 đồng, Đài Thơm 8 từ 9.150 đến 9.350 đồng, CL 555 từ 7.900 đến 8.010 đồng, IR 504 từ 8.000 đến 8.100 đồng, OM 18 từ 8.900 đến 9.100 đồng và gạo Sóc thơm từ 7.500 đến 7.600 đồng mỗi kg. Gạo thành phẩm IR 504 đang giao dịch trong khoảng 9.500 đến 9.700 đồng mỗi kg.
Về mảng xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5 phần trăm tấm dao động từ 400 đến 415 USD mỗi tấn, gạo Jasmine từ 430 đến 434 USD, và gạo 100 phần trăm tấm từ 316 đến 320 USD mỗi tấn.
Trong khu vực, gạo trắng 5 phần trăm tấm của Thái Lan đang cao nhất với 381 đến 385 USD mỗi tấn, trong khi cùng phân khúc này của Ấn Độ đạt 351 đến 355 USD và Pakistan là 362 đến 366 USD mỗi tấn. Gạo đồ 5 phần trăm tấm của Ấn Độ cũng ghi nhận mức 350 đến 354 USD mỗi tấn.
Hồ tiêu đi ngang giữa những biến số thương mại
Dù đối mặt với rủi ro gián đoạn thương mại và áp lực giá từ những xung đột tại Trung Đông, giá tiêu trong nước hôm nay vẫn đi ngang quanh ngưỡng 144.500 đến 146.500 đồng mỗi kg.
Tại các vùng trồng trọng điểm, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục dẫn đầu với mức giá thu mua cao nhất đạt 146.500 đồng mỗi kg. TP.HCM ghi nhận giao dịch ở mức 145.000 đồng, trong khi Gia Lai và Đồng Nai phổ biến ở khoảng 144.500 đồng mỗi kg.
Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy tiêu đen xuất khẩu của Indonesia đang chào bán ở mức 6.953 USD mỗi tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil niêm yết tại 6.050 USD, còn tiêu đen Malaysia vững vàng ở mức 9.100 USD mỗi tấn.
Tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục ổn định trong khoảng 6.400 đến 6.500 USD mỗi tấn cho hai loại 500 và 550 gram mỗi lít. Đối với tiêu trắng, loại Muntok của Indonesia báo giá khoảng 9.262 USD mỗi tấn, Malaysia đạt 12.100 USD và Việt Nam là 9.150 USD mỗi tấn.
Cao su nội địa vững vàng trước áp lực giảm của thế giới
Thị trường cao su thế giới hôm nay chứng kiến diễn biến trái chiều mang tâm lý thận trọng, trong đó xu hướng giảm nhẹ chiếm ưu thế.
Tại Nhật Bản, trên sàn Tocom, hầu hết các hợp đồng RSS3 đều giảm. Hợp đồng giao tháng 3 năm 2026 ở mức 373 JPY mỗi kg với mức giảm 0,12 phần trăm. Kỳ hạn tháng 4 giảm mạnh nhất 0,94 phần trăm xuống 365 JPY, tháng 5 ổn định ở mức 369 JPY, tháng 6 giảm 0,55 phần trăm còn 373,2 JPY và tháng 7 giảm 0,71 phần trăm xuống 374,6 JPY mỗi kg.
Tương tự trên sàn SHFE Thượng Hải, hợp đồng tháng 3 ổn định tại 17.025 CNY mỗi tấn, nhưng các kỳ hạn sau đều giảm, với tháng 4 giảm sâu nhất 1,32 phần trăm còn 17.015 CNY. Tháng 5, tháng 6 và tháng 7 lần lượt giảm xuống các mức 16.905, 16.825 và 16.885 CNY mỗi tấn.
Riêng sàn SGX Singapore ghi nhận sự ổn định nhẹ, hợp đồng TSR20 tháng 4 giảm nhẹ 0,04 phần trăm còn 199,1 Cent mỗi kg, các kỳ hạn tháng 5 và 6 tăng nhẹ lên mốc 198,5 Cent, còn tháng 7 và 8 giữ nguyên ở mức 198,3 và 198,2 Cent mỗi kg.
Trái ngược với nhịp đập thế giới, giá thu mua mủ tại các công ty trong nước đồng loạt duy trì sự ổn định. Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 với giá 463 đồng mỗi TSC một kg, loại 2 là 458 đồng. Mủ đông tạp loại 1 và 2 lần lượt ở mức 459 và 404 đồng mỗi kg.
Công ty Cao su Phú Riềng niêm yết mủ nước 440 đồng mỗi TSC một kg và mủ tạp 400 đồng mỗi DRC một kg.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá mủ nước được phân loại theo độ TSC từ mức 442 đến 452 đồng mỗi độ. Giá mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 50 phần trăm trở lên có giá 18.000 đồng mỗi kg, từ 45 đến 50 phần trăm là 16.700 đồng, và từ 35 đến 45 phần trăm là 13.500 đồng mỗi kg. Công ty cao su Bình Long báo giá mủ nước tại nhà máy 432 đồng và tại đội sản xuất là 422 đồng mỗi độ TSC một kg, mủ tạp đạt độ DRC 60 phần trăm có giá 14.000 đồng mỗi kg.
Giá heo hơi chững lại, giảm cục bộ tại miền Nam
Thị trường heo hơi toàn quốc hôm nay ghi nhận nhịp độ ổn định, với mức giá đỉnh 68.000 đồng vẫn được bảo toàn tại các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, miền Nam cũng là khu vực duy nhất ghi nhận sự sụt giảm 1.000 đồng tại một số tỉnh.
Theo đó, giá heo tại Đồng Tháp và Vĩnh Long lùi về mức tương ứng là 67.000 và 66.000 đồng mỗi kg. Các địa phương như Đồng Nai, Tây Ninh và TP.HCM tiếp tục dẫn đầu toàn quốc với 68.000 đồng mỗi kg. Cà Mau và Cần Thơ duy trì mốc 67.000 đồng, trong khi An Giang giữ mức 66.000 đồng mỗi kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi không ghi nhận biến động mới và dao động từ 60.000 đến 63.000 đồng mỗi kg. Lai Châu hiện có mức giá thấp nhất khu vực với 60.000 đồng. Các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai và Phú Thọ cùng đứng ở mức 61.000 đồng mỗi kg. Tuyên Quang, Ninh Bình, Sơn La và Hưng Yên duy trì giá thu mua 62.000 đồng, trong khi Cao Bằng, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng và Điện Biên giao dịch ở mức cao nhất vùng là 63.000 đồng mỗi kg.
Khu vực miền Trung và Tây Nguyên cũng mang dáng vẻ tĩnh lặng khi không có sự điều chỉnh giá. Heo hơi tại Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh đang được thu mua ở mức thấp nhất vùng là 60.000 đồng mỗi kg. Gia Lai giữ mốc 63.000 đồng, trong khi Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Khánh Hòa duy trì ổn định ở mức 64.000 đồng mỗi kg. Lâm Đồng tiếp tục giữ vững vị trí cao nhất toàn khu vực này với mức giá 67.000 đồng mỗi kg.
.jpg)

