Nông sản Việt

Thị trường gạo Việt đang thiếu một cuộc phân vai rõ ràng

NGUYỄN ĐỨC NGHĨA 27/05/2026 06:47

Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Việt Nam có thể nhập khoảng 3,9 triệu tấn lúa gạo trong năm 2026. Và tăng lên 4 triệu tấn vào năm 2027, đứng thứ hai thế giới sau Philippines. Trong khi đó, xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn được dự báo duy trì trên 7,7 triệu tấn.

Một quốc gia bán gạo đi khắp toàn cầu nhưng lại nằm trong nhóm nhập khẩu lớn nhất thế giới. Nghe như một nghịch lý của thị trường gạo Việt.

Gạo Việt Nam đi khắp toàn cầu nhưng đồng thời cũng nằm trong nhóm nhập khẩu lớn nhất thế giới. Nghe như một nghịch lý của thị trường gạo Việt. Ảnh: TNO
Gạo Việt Nam đi khắp toàn cầu nhưng đồng thời cũng nằm trong nhóm nhập khẩu lớn nhất thế giới. Nghe như một nghịch lý của thị trường gạo Việt. Ảnh: TNO

Nhưng thực tế, phía sau các con số ấy là một sự tái cấu trúc rất sâu của thị trường gạo Việt và cả chuỗi cung ứng gạo ở Đông Nam Á.

Việt Nam đang chủ động rời khỏi phân khúc gạo giá rẻ

Trong nhiều năm, Việt Nam từng được xem là “công xưởng gạo số lượng lớn” của thế giới. Mục tiêu lớn nhất của ngành lúa gạo khi đó là giữ sản lượng cao và xuất càng nhiều càng tốt.

Nhưng logic ấy đang thay đổi.

Diện tích đất lúa của Việt Nam đã giảm đáng kể so với hơn một thập kỷ trước. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước. Nơi này liên tục chuyển đổi diện tích sang nông sản khác. Sang cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản hoặc các mô hình nông nghiệp giá trị cao hơn. Nhà nước cũng đang thúc đẩy mạnh đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Điều đó cho thấy Việt Nam không còn muốn giữ vị trí “nguồn cung gạo giá rẻ” bằng mọi giá.

Thay vào đó, ngành gạo đang được kéo dần lên phân khúc cao hơn. Với gạo thơm, gạo đặc sản, gạo chất lượng cao... Hiện nay, nhóm gạo thơm và gạo chất lượng cao đã chiếm khoảng 75% cơ cấu xuất khẩu. Những cái tên như ST25, Đài Thơm 8, OM18 hay Nàng Hoa không chỉ là giống lúa. Chúng đang trở thành công cụ định vị lại vị thế của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thị trường gạo Việt vẫn cần một lượng nguyên liệu giá thấp khổng lồ

Vấn đề là nền kinh tế không chỉ vận hành bằng gạo thơm cao cấp.

Phía sau hạt gạo là cả một hệ sinh thái tiêu dùng và công nghiệp khổng lồ. Gồm bún, bánh, phở, bột gạo, cám gạo, thức ăn chăn nuôi, bếp ăn công nghiệp, quán cơm bình dân… Đây là khu vực tiêu thụ nguyên liệu rẻ với quy mô lớn, lại rất nhạy cảm với chi phí.

Khi nông dân được khuyến khích chuyển sang các giống lúa chất lượng cao hơn. Khoảng trống ở phân khúc phổ thông sẽ tự động xuất hiện. Và khoảng trống ấy đang được lấp bằng lúa từ Campuchia hoặc gạo giá thấp từ Ấn Độ.

Khi nông dân trong nước được khuyến khích chuyển sang các giống lúa chất lượng cao hơn, khoảng trống ở phân khúc phổ thông sẽ tự động xuất hiện. Ảnh: THC L
Nông dân trong nước được khuyến khích chuyển sang các giống lúa chất lượng cao hơn. Khoảng trống ở phân khúc phổ thông sẽ tự động xuất hiện. Ảnh: THC L

Đó là lý do gạo Việt Nam vừa xuất khẩu mạnh, vừa nhập khẩu lượng lớn nguyên liệu thô.

Nếu nhìn theo logic của chuỗi giá trị, đây không phải nghịch lý. Mà là dấu hiệu của một thị trường đang phân tầng ngày càng rõ. Tầng trên tạo thương hiệu và giá trị cao. Tầng dưới cung cấp nguyên liệu số lượng lớn với giá rẻ.

Một “vùng nguyên liệu ngoài biên giới” đang hình thành

Điểm đáng chú ý là dòng lúa từ Campuchia về Việt Nam không đơn thuần là quan hệ nhập khẩu thông thường.

Nhiều doanh nghiệp Việt đã sang Campuchia sản xuất rồi đưa lúa về nước xay xát và xuất khẩu. Lý do là chi phí sản xuất tại Campuchia hiện thấp hơn đáng kể. Đặc biệt là chi phí đất đai.

Có thể nói, Campuchia đang trở thành một phần mở rộng của vùng nguyên liệu cho lúa gạo Việt Nam.

Đây là một chuyển động khá mới của nông nghiệp Đông Nam Á. Hạt lúa có thể được trồng ở Campuchia. Nhưng hệ thống kho bãi, logistics, xay xát, cảng biển và mạng lưới thương mại lại nằm ở Việt Nam.

Điều đó cho thấy Việt Nam hiện không còn chỉ là nước “trồng lúa để bán”. Mà đang dần trở thành trung tâm chế biến và thương mại của chuỗi giá trị gạo khu vực.

Ai đang hưởng lợi nhiều nhất?

Khi thị trường lúa gạo phân tầng, phần giá trị lớn nhất không còn nằm ở ruộng lúa.

Nó nằm ở doanh nghiệp xuất khẩu, nhà máy chế biến, hệ thống logistics, thương mại và thương hiệu. Người có kho chứa, có cảng, có mạng lưới khách hàng quốc tế sẽ hưởng lợi nhiều hơn người chỉ sở hữu ruộng đất.

Vì vậy, câu chuyện nhập khẩu lúa gạo hiện nay cần được nhìn bằng góc độ xã hội nông nghiệp. Chứ không chỉ bằng cán cân thương mại.

Nếu tham gia được vào phân khúc gạo chất lượng cao, nông dân Việt Nam có cơ hội hưởng lợi tốt hơn trước. Nhưng để bước vào tầng này, người trồng lúa phải đáp ứng hàng loạt điều kiện. Giống chuẩn, canh tác đồng đều, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, liên kết với doanh nghiệp... Không phải hộ nông dân nào cũng đủ năng lực và nguồn lực để đáp ứng.

Ngược lại, nếu vẫn ở phân khúc lúa phổ thông. Họ sẽ phải cạnh tranh trực tiếp với nguồn nguyên liệu giá thấp hơn từ Campuchia.

Như vậy, dù nâng cấp hạt gạo rất nhanh. Nhưng chưa chắc ta đã nâng cấp được vị trí của người trồng lúa trong chuỗi giá trị mới ấy.

Một thay đổi quan trọng khác là Campuchia hiện cũng đang đi lên rất nhanh ở phân khúc gạo thơm.

Các giống như Phka Malis ngày càng được thị trường châu Âu và Trung Quốc ưa chuộng. Cơ cấu xuất khẩu của Campuchia hiện phần lớn là gạo thơm. Chứ không còn chỉ là gạo phẩm cấp thấp. Nước này cũng đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu hơn 1 triệu tấn gạo trong năm 2026.

Điều đó có nghĩa Campuchia không chỉ cạnh tranh với Việt Nam ở tầng thấp.

Nếu trước đây, Việt Nam có thể nhập nguyên liệu giá rẻ từ Campuchia rồi chế biến xuất khẩu. Thì trong tương lai, Campuchia có thể tự xây thương hiệu mạnh, đi thẳng vào phân khúc cao cấp.

Khi đó, cạnh tranh sẽ không còn nằm chủ yếu ở giá, mà nằm ở khả năng tổ chức chuỗi cung ứng, xây dựng thương hiệu và giữ chất lượng ổn định.

Cuộc “phân vai” rõ ràng cho hạt gạo

Nhiều năm qua, ngành lúa gạo Việt Nam thường được đánh giá bằng số triệu tấn xuất khẩu.

Nhưng ở giai đoạn hiện nay, câu hỏi quan trọng hơn có lẽ là: ai đang giữ phần giá trị lớn nhất của hạt gạo?

Nếu doanh nghiệp hưởng lợi từ thương mại và logistics, còn người trồng lúa bị giữ ở tầng nguyên liệu dễ thay thế, thì khoảng cách trong chuỗi giá trị sẽ ngày càng lớn.

Một nền nông nghiệp có thể xuất khẩu rất mạnh nhưng người trồng vẫn yếu, nếu lợi nhuận chủ yếu nằm ở khâu thương mại và chế biến.

Vì vậy, vấn đề của ngành gạo lúc này không còn đơn thuần là xuất khẩu hay nhập khẩu bao nhiêu tấn. Điều quan trọng hơn là Việt Nam có tổ chức được một cuộc phân vai đủ rõ cho hạt gạo hay không: ai làm nguyên liệu, ai làm thương hiệu, ai giữ giá trị cao nhất, và quan trọng nhất, người nông dân sẽ đứng ở đâu trong cấu trúc mới của thị trường gạo Đông Nam Á.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường gạo Việt đang thiếu một cuộc phân vai rõ ràng
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO