Theo dấu ngự dược đi tìm chính bản những bài thuốc cung đình

Những y văn - kỳ thư đậm nhạt mực Tàu từ giấy dó được bày ra ánh sáng, cất lên tiếng nói, để người đi sau học tập, thụ hưởng, nhìn đó mà ngẫm về công đức lẫn tài năng tiền nhân về trình độ y dược của người Việt mình. Đâu có phải nói thuốc Bắc là mặc nhiên của phương Bắc!

“Hiện hình từ bóng”
Tôi vừa rời khỏi Đại Nam Thái Y Đường, nơi được coi là bảo tàng Đông y triều Nguyễn ở 02 Đoàn Thị Điểm, phường Thuận Thành, TP Huế. Mùi từ siêu sắc thuốc vương thì ít, mà những lợn cợn câu chuyện dựng hình hài của nó thì nhiều. Có cơ ngơi như bây giờ, thì gan ruột của nó, tức những bài thuốc cung đình từ thời vua Gia Long về sau, đã nổi trôi thế nào giữa thời gian phủ bóng, giữa mất mát tàn phai, giữa tồn nghi chánh tông hay vong bản, hiện ra và sống với ba đào lẫn lộn thật giả, chí ít là chai rượu Minh Mạng Thang mà giới mày râu, đến bây giờ vẫn cứ sùng sục lên khi nâng chén mà cứ ngập ngừng: sao ai cũng nói “đây, chánh hiệu con nai vàng”…?
Hòa thượng Thích Tuệ Tâm, chủ Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa ở chùa Pháp Luân, như ngưng lại mấy giây trước lời ngỏ của khách. Tôi mở lời, 35 năm trước, khi sư còn chữa trị miễn phí ở Tuệ Tĩnh Đường ở chùa Diệu Đế bên Gia Hội, thì tôi cũng là bệnh nhân, được các lương y ở đó châm cứu. Sư à lên, và rằng còn chuyện “giải minh” những bài thuốc cung đình, dài lắm.
Rằng, lâu lắm rồi, bản thân sư đã có ý tìm phương thuốc thời triều Nguyễn, qua sách vở của các ngự y, danh y. Nghe đâu có con cháu họ, là tìm tới. Mà xứ cố đô này, lương y nối đời, đông lắm. Trước đó, ai đó cũng có chủ ý đi tìm.
“Tôi không biết họ sưu tầm được gì, nhưng cái tôi quan tâm là có phải chính các ngự y viết lại không, hay là sách vở? Vì sách vở thì giống nhau thôi. Tôi muốn bản chép tay, vì đó là kinh nghiệm của các cụ để lại. May mắn có lãnh đạo tỉnh, rồi Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế hồi đó mong muốn phải “đập cổ kính ra tìm lấy bóng” - tìm từ châu bản triều Nguyễn, bằng cách lập ra một nhóm sưu tầm, nghiên cứu tư liệu cũ, trong đó có tôi”, sư nói.
Thời gian đã phủ bóng mấy năm trăm, hồ dễ mà tìm. “Vất vả lắm - sư kể - ra Hà Nội, vào các trung tâm lưu trữ mày mò. Đến khi tìm được Ngự dược nhật ký - những đơn thuốc dâng lên cho vua Gia Long, chúng tôi mừng quá”.
Hòa thượng Thích Tuệ Tâm và dịch giả Lê Quý Ngưu chịu trách nhiệm dịch. Một trăm mấy chục trang. Khó lắm, vì chữ Hán cổ, chữ nghĩa cung đình, lại toàn ngôn ngữ y dược, may mà hai người có đủ “công lực” để rọi, chứ đưa tài liệu cho người không có chuyên môn Đông y, chỉ biết chữ Hán, thì họ lắc đầu. Hiệu chỉnh nhiều lần. Nó quá khó, khi đưa ra lưu hành mà không hoàn chỉnh, đâu có được.
Ngự dược nhật ký gồm 94 tờ. Những tờ này do Thái Y Viện trình trong khoảng 1 năm từ 15 tháng Giêng đến 15 tháng Chạp năm Gia Long thứ 18 (1819 - 1820), trên đó vua phê các tờ khải của Ngự y Thái Y Viện về các bài thuốc mà ông dùng khi lâm bệnh nặng vào năm Kỷ Mão - Canh Thìn 1819 - 1820.
Nhưng chừng đó chưa đủ. Những tư liệu khi sưu tầm trong châu bản triều Nguyễn đã hiện ra nhiều bài thuốc thời Minh Mạng, Tự Đức, nên sư và cộng sự đã xếp chung vào, để rồi năm 2019, cuốn Ngự dược nhật ký trong châu bản truyền Nguyễn, dày 550 trang, ra đời…

Tôi cầm cuốn sách ông tặng, trỗi dậy nỗi cảm kích vô cùng. Đây, kho tàng thuốc cổ tinh túy của cha ông, cả sức nặng về kỳ công và tấm lòng kẻ đi sau, mà không có gì hơn là họ muốn những “tự sự trăm năm” trong các đơn thuốc, những y văn - kỳ thư đậm nhạt mực Tàu từ giấy dó được bày ra ánh sáng, cất lên tiếng nói, để người đi sau học tập, thụ hưởng, nhìn đó mà ngẫm về công đức lẫn tài năng tiền nhân về trình độ y dược của người Việt mình. Đâu có phải nói thuốc Bắc là mặc nhiên của phương Bắc! Đọc thấy cái gọi là gia giảm vị khi đem so với thang thuốc đó trong Trung Y Đại từ điển, sẽ thấy người Việt sáng tạo thế nào!
Duyên may trời chẳng trao nhầm
Đi vào thế giới thuốc, sẽ chẳng ai dám vỗ ngực là mình biết hết, nhưng khi “thực chiến”, chính người bệnh chứ không ai khác, là câu trả lời chuẩn nhất rằng ai đúng, thuốc nào hay.
Tôi nghĩ vậy mà nói với sư rằng, nói về thuốc cung đình, hình như trăm họ đều chú mục vào “từ khóa”: Minh Mạng Thang! Sư cười, rằng cũng đúng thôi, ngày xưa làm chi có cái gọi là Minh Mạng Thang, bởi Minh Mạng là tên của vua, ai mà dám gọi, mà sau này ai cũng mạnh miệng!

“Nhưng có chuyện này - sư nhìn tôi như muốn xác quyết - Tôi có tư liệu. Cụ Bửu Kế, nguyên là quản thư của thư viện Đại học Huế trước 1975, vốn là bệnh nhân của tôi, tôi chữa bệnh cho cụ ở chùa Diệu Đế vào năm 1984. Khi chữa lành rồi, cụ nói ‘tôi không có chi cảm ơn thầy, chỉ xin tặng bài thuốc của tôi sưu tầm được, thầy giúp cho ai được thì giúp. Bài này, ông của tôi ngày trước làm trong triều, nên có được’. Đó là bài thuốc được chép tay bằng chữ Hán. Cũng từ đây, tôi bắt đầu để ý sưu tầm các bài thuốc. Bài từ bản cụ Bửu Kế cho, so với ‘Nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử’, được lưu truyền, là giống nhau. Khi tôi nghiên cứu châu bản triều Nguyễn, nhất là Ngự dược nhật ký, thì thấy các ngự y dâng cho vua Minh Mạng bài ‘Quy tỳ thang’ có gia giảm vị, tác dụng đại bổ khí huyết và thận, rất hay, vì thực tế lâm sàng mà tôi biết được. Soi lại thì bài ‘Nhất dạ ngũ giao…’ chính là bài ‘Quy tỳ thang’ gia giảm. Còn bài ‘Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử’ là dựa vào bài ‘Độc hoạt tang ký sinh’. Bài ‘Độc hoạt tang ký sinh’ lại dựa vào bài ‘Bát trân’ vốn là bồi bổ khí huyết. Bài này chủ trị nhức mỏi chân tay xương khớp từ thắt lưng xuống, đi kèm vị bổ thận”.
Tôi vẫn băn khoăn: “Thế tên gọi ‘lục giao, ngũ giao…’, có phải về sau người ta gọi không?”. Sư lại cười: “Ừ đúng, bài thuốc chỉ có vua dùng, hoặc các quan, nên phải gọi cho nó trang trọng, cao sang, mà dùng thì có gia giảm, chứ dùng đúng từng vị, tìm đâu ra những thứ như gân gối con cọp hay nhung hươu, nai? Còn cái gọi là Minh Mạng Thang, trong tay tôi có 24 bài”.
“Vậy 24 bài đó, bao nhiêu bài đáng tin?”, tôi hỏi.
“Chỉ hai bài ‘Quy tỳ thang’ và ‘Độc hoạt tang ký sinh’ là đáng tin, vì tôi căn cứ thực tế lâm sàng, chữa cho người ta, thấy hiệu quả rõ rệt”.
Sư vào nghề y từ năm 1974, mệnh thoát tục trần tụng kinh gõ mõ nhưng nghề y lại khiến ông thêm gánh nặng cứu người, mà có lẽ nó quá hợp với dụng giới nhà Phật. Hơn nửa thế kỷ làm lương y chốn Phật môn, bệnh nhân, học trò của ông nhiều vô kể; tên tuổi ông vượt khỏi biên giới cũng bởi năng lực và tấm lòng. Cũng chính lẽ đó mà tôi trần tình rằng vừa ở Đại Nam Thái Viện ra, nói thật là hơi hụt hẫng bởi nó còn thiếu nhiều quá, giá mà… Và như lời lương y Phan Tấn Tô phụ trách chuyên môn ở đó, rằng mong ước nhiều lắm, nhưng…

Nghe đến đây, thì sư trầm tư: “Tôi kể cho anh chuyện này, hồi đó là năm 2001, tôi được mời khám cho một bà già. Khi khám bà nằm trong giường, có màn che, chỉ đưa 1 cánh tay ra, y như cung cách trong cung đình thuở trước mà ngự y thăm khám cho cung nữ, nên mình đâu có ‘vọng, văn, vấn’ mà chỉ ‘thiết’. Bắt mạch xong, bà hỏi : ‘Tui bị bịnh chi thầy?’. “Bác bị ‘âm hư nội nhiệt’ và bác có nóng trong người, khó ngủ, đi cầu bón, khát nước?”. Bà nói có, rồi bất ngờ nói thêm: “Đúng là tôi bị âm hư nội nhiệt”.
Khám xong, quay ra, thì con bà mới nói bà cụ được cha truyền nghề y, được tuyển vô cung khám chữa bệnh cho cung nữ. Tôi nghe, giật mình. Tôi hỏi: “Bác có uống thuốc không?”. “Có chứ”. “Rứa tôi cho bài thuốc”. “Thầy cho bài chi?”. “Thường cho “lục vị tri bá”, nhưng có gia giảm vì bác khát nước”. “Ừ, đúng bài đó rồi”. “Tôi cho 5 thang, có chi tôi kiểm tra lại”.
Khi uống xong, thì bà nói giảm nhiều, sau đó uống 5 thang nữa thì dứt bệnh. Bữa đó, bà kêu con: “Khi ông ngoại mất, mẹ có giữ rương sách ông ngoại để lại, con lên gác lấy xuống cúng cho sư để sư chữa bệnh cứu người”. Mở sách ra, 9 cuốn. Đúng là… vàng. Ông cụ là Chánh Ngự y Lê Văn Doãn. Duyên may của tôi đây rồi”.
Dịch tàng thư của cụ Doãn đến đâu, sư ngỡ ngàng đến đó. Cụ là ngự y nổi tiếng, từ một y sinh lên chức ngự y, phó rồi chánh ngự y, có văn bản sắc phong hẳn hoi, đã trải qua một hành trình dài làm nghề với 4 đời vua. Bao nhiêu bài thuốc hay, cách thức tổ chức, cơ cấu, con người, quy trình hoạt động của Thái Y Viện triều Nguyễn ra sao, được cụ viết lại hết. Đúng là trời trao duyên cho sư, bởi từ đây, một mô hình Thái Y Viện được tổ chức cực kỳ chặt chẽ thời đó, hiện rành rành ra. Và nhờ đó mà sư đảm chức cố vấn, sáng lập viên của Đại Nam Thái Viện khánh thành cuối năm 2019. Nhưng rồi, vì nhiều lý do, về sau, sư rời khỏi vị trí đó.
Vậy thì làm sao? Không lẽ những khoảng trống, những dở dang đáng ra phải được lấp để làm sống động một thời vàng son của y học cổ, mà cụ thể nhất là những bài thuốc quý, đúng tên đúng vị đúng bài, và nhất là làm sao phát huy vốn cổ chính là lực đẩy để bảo tồn văn hóa?
Không lẽ “xếp tàn y lại, để dành hơi”?…
Hình như tôi đã chạm đến nỗi ưu tư, bởi tôi vừa nghe sư nói rằng phải nâng y học cung đình lên tầm đặc sản Huế, mà dù giọng sư an nhiên, nhưng tôi như đọc được chút u uẩn.
“Tôi nói nhiều lần rồi, là phải lập đúng Thái Y Viện như ngày xưa, tôi sẽ làm cố vấn chuyên môn. Tôi tự tin điều đó. Có nhiều cách để làm, nhưng làm gì thì làm, phải kết hợp với du lịch, quảng bá rộng rãi và hiệu quả. Có lần Sở KH-CN có tổ chức một hội nghị về các bài thuốc Minh Mạng Thang. Công ty dược phẩm muốn làm rượu Minh Mạng Thang nên mời tôi làm phản biện. Tôi nói rằng không có bài thuốc nào cố định cả, bởi tùy cơ địa từng người. Ví dụ thang có đại hồi, quế, chỉ dùng mùa đông, chứ mùa hè nên bỏ đi. Hãy làm theo mùa. Tôi dựa vào hai bài trên để phân tích. Nếu làm rượu Minh Mạng thì dùng bài ‘Độc hoạt tang ký sinh’ dùng cho người cao niên, còn ‘Quy tỳ thang’ dùng cho trung niên và trưởng thành, nhưng như đã nói, phải bốc theo mùa”.

Ông tiếp: “Và kinh nghiệm của tôi là thêm cúc hoa, xuyên khung vì nó thơm lắm, lại không nhức đầu, khô cổ, đỏ mắt, có tác dụng tốt hơn. Còn thực tế rượu họ có làm như mình nói không, tôi không biết. Thuốc nhà Nguyễn có hai loại: dùng cung đình và dân gian, nên cái gọi là đại trà về giá để phổ biến, hơi khó. Tôi từng nói với Trung tâm Bảo tồn di tích, rằng nếu làm thì phải “thượng phẩm, thượng chế”, thuốc phải cực tốt, vua dùng mà, khách tham quan đã bỏ đồng tiền mua, là mua đồ hảo hạng và chấp nhận đắt, bởi tiền nào của nấy. Làm theo kiểu hoàn tán, tinh chế lại. Ví dụ 1 thang 10 vị, tôi nấu thành cao từ 5 vị, còn 5 vị còn lại tôi xay thành bột mịn, trộn với cao đó, làm viên (hoàn). Vậy 1 thang thay vì 10 viên, ta làm thành 5 viên; thay vì 1 ngày 2 viên thì còn 1 viên. Về chất lượng, tôi đảm bảo tôi kiểm soát được. Còn mẫu mã là phải thật sang trọng, bắt mắt, cung đình mà! Ta phải kể câu chuyện thương hiệu. Có làm ngự tửu thì cũng phải thật tốt. Ta phải làm cho họ có niềm tin thật sự, chứ đừng lừa dối. Tôi qua Đồng Nhân Đường ở Trung Quốc, 1 lọ thuốc nhỏ họ bán 400 đô, trong khi ở mình chừng mấy trăm ngàn. Uống cực kỳ hiệu quả, không hổ danh Đồng Nhân Đường! Bỏ tiền mua là xứng đáng”.

Tôi ra về, vẳng lời sư, rằng khi tiếp cận những bài thuốc tinh hoa chữa bệnh cho vua, chỉ nói được một câu: Quá giỏi! Một thuở mờ sương, có biết bao bài thuốc của ngự y danh tiếng trong 85 ngự y của Thái Y viện một thuở, rồi bao danh y dân gian, dù không vào cung nhưng thủ đắc bao bài thuốc hay, dễ gì tìm lại, chưa nói những bài thuốc đã thất truyền.
Còn nữa, sư rằng “tôi nay 70 tuổi rồi, còn sức, tôi sẵn sàng đóng góp về chuyên môn, làm cái hay, tốt, đúng, thì làm”. Những tự sự từ thuốc từ thầy, không lẽ rồi chỉ là siêu thuốc đã nguội lạnh, chỉ có chút hương bay trong sử sách? Nhớ ở Đại Nam Thái Viện có tấm bảng : “Hạnh Lâm Quốc Thủ” (nơi tập trung những tinh hoa của nghề y cả nước), không lẽ chỉ để ngậm ngùi?

