Văn hóa
Huế muốn đánh thức mùa mưa, mở hướng du lịch y tế
Thành phố Huế sẽ tập trung cơ cấu lại và phát triển những dòng sản phẩm mới, trong đó có du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe, du lịch ẩm thực, du lịch mùa mưa và các sản phẩm gắn với sự kiện văn hóa, nghệ thuật.

Tại hội nghị công bố chương trình kích cầu và các sản phẩm du lịch mới đến năm 2027 do UBND TP. Huế tổ chức ngày 31/10 vừa qua, du lịch mùa mưa và du lịch y tế là những hướng đi đáng chú ý.
Theo ông Trần Hữu Thùy Giang, Phó Chủ tịch UBND TP. Huế, trên cơ sở rà soát các sản phẩm hiện có, thành phố sẽ tập trung cơ cấu lại và phát triển những dòng sản phẩm mới, trong đó có du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe, du lịch ẩm thực, du lịch mùa mưa và các sản phẩm gắn với sự kiện văn hóa, nghệ thuật.
Mưa Huế có gì mà những nơi khác không có?
Mưa đã đi vào thơ ca, âm nhạc, hội họa và trở thành một phần ký ức về Huế. Đó là những cơn mưa dầm dề, những ngày đông se lạnh, mưa bay trên sông Hương, mái ngói rêu phong và những con phố nhỏ trầm mặc.
Với nhiều người, đến Huế vào mùa mưa cũng là một trải đáng nhớ về vùng đất "nắng lắm, mưa nhiều" này.

Nhưng mùa mưa trong ký ức không hẳn là mùa mưa đang hiện hữu. Theo một số chuyên gia, biến đổi khí hậu đang làm thay đổi thời tiết, khiến cảm nhận về mùa đông, độ lạnh và những đợt mưa kéo dài cũng khác trước.
Do đó, muốn khai thác mùa mưa thành sản phẩm du lịch, Huế cần đối chiếu dữ liệu khí tượng qua nhiều năm để nhận diện những thay đổi ấy, thay vì chỉ dựa vào hình ảnh mưa Huế đã được lưu giữ trong thi ca, nhạc họa.
Thị trường khách cũng là vấn đề cần tính đến. Mùa mưa Huế trùng với thời điểm nhiều địa phương miền Trung phải ứng phó với bão lũ, khiến việc đi lại và kết nối các điểm đến trong khu vực có thể gặp trở ngại. Vì vậy, khách từ miền Bắc, miền Nam và khách quốc tế là những phân khúc Huế có thể hướng đến.

Tuy nhiên, muốn họ lựa chọn Huế vào thời điểm thời tiết không thuận lợi, thành phố phải tạo được lý do đủ sức thuyết phục.
Nhìn ra thế giới, Kerala của Ấn Độ gắn mùa mưa với các liệu pháp Ayurveda và chăm sóc sức khỏe. Ở Nhật Bản, vẻ đẹp hoa cẩm tú cầu, đền chùa, núi rừng trong màn mưa và sương được khai thác thành trải nghiệm theo mùa.
Những ví dụ này cho thấy, sản phẩm du lịch mùa mưa không phải là xa lạ. Điều quan trọng là tìm ra giá trị riêng của từng vùng đất trong thời điểm ấy, nếu Huế cũng muốn phát triển những sản phẩm tương tự.
Với Huế, thưởng trà, nghe nhạc, ăn món nóng hay tham quan di tích trong ngày mưa có thể là những hoạt động phù hợp. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, sản phẩm mùa mưa sẽ khó tạo được khác biệt, bởi những dịch vụ này vốn đã có ở nhiều nơi. Mưa ở đâu cũng có. Huế cần tìm ra điều gì khiến trải nghiệm dưới mưa ở vùng đất cố đô trở nên khác biệt.

Một vấn đề nữa là phải phân biệt mùa mưa với mưa lũ, bão và ngập lụt. Không thể biến thiên tai thành sản phẩm du lịch. Hoạt động trong mùa mưa phải đi cùng dự báo thời tiết, phương án bảo đảm an toàn và lịch trình thay thế khi có diễn biến bất lợi.
Muốn bán được mưa Huế, trước hết phải định nghĩa được mưa Huế hôm nay. Không thể chỉ bán một mùa mưa trong ký ức nếu chưa hiểu rõ mùa mưa hiện tại còn những nét riêng nào.
Câu hỏi đặt ra là: Mưa Huế có gì mà những nơi khác không có? Và điều đó có đủ sức khiến du khách vượt qua trở ngại về thời tiết, khoảng cách để đến Huế và sẵn sàng chi trả cho những trải nghiệm được thiết kế quanh mùa mưa?
Lợi thế bệnh viện mạnh chưa đủ tạo nên du lịch y tế
Nếu du lịch mùa mưa cần tìm nét riêng từ khí hậu và cảnh quan, du lịch y tế có một nền tảng cụ thể hơn: năng lực khám chữa bệnh của hệ thống y tế Huế, trong đó Bệnh viện Trung ương Huế giữ vai trò quan trọng.
Bệnh viện tiếp nhận người bệnh từ nhiều tỉnh, thành, đặc biệt là khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Đây là lợi thế khi thành phố tính đến việc phát triển du lịch y tế.
Tuy nhiên, cần nhìn rõ bản chất của dòng người này. Phần lớn bệnh nhân ngoại tỉnh đến Huế vì nhu cầu khám chữa bệnh, không phải du lịch.
Trong số đó có nhiều người từ vùng nông thôn, miền núi, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Họ phải tính toán chắt chiu tiền ăn, ở, đi lại trong suốt quá trình điều trị. Người thân đi cùng thường tìm phòng trọ giá rẻ gần bệnh viện để tiện chăm sóc và tiết kiệm chi phí.

Vì vậy, thời gian lưu lại dài không đồng nghĩa với mức chi tiêu cao, nhất là chi tiêu cho dịch vụ ngoài y tế.
Và cần nhận diện rõ, bệnh nhân đến Huế khám chữa bệnh chưa chắc là khách du lịch y tế; người nhà đi cùng cũng không mặc nhiên trở thành nguồn khách cho ngành du lịch. Lượt khám chữa bệnh, số người lưu trú và lượng khách thực sự sử dụng dịch vụ du lịch là những con số khác nhau.
Ở chiều ngược lại, nhóm người có khả năng chi trả cao cũng có nhiều lựa chọn khi muốn lựa chọn dịch vụ y tế. Họ có thể tìm đến các bệnh viện lớn ở Hà Nội, TP. HCM hoặc ra nước ngoài nếu tin tưởng hơn vào chất lượng chuyên môn, công nghệ và dịch vụ.
Do đó, lợi thế của Huế không thể chỉ được tính bằng số bệnh nhân ngoại tỉnh, mà phải được chứng minh bằng chất lượng điều trị, chi phí hợp lý và khả năng phục vụ người bệnh.

Cũng với đó, cũng cần phân biệt du lịch y tế với du lịch chăm sóc sức khỏe. Du lịch y tế gắn với khám, chẩn đoán, điều trị, phẫu thuật và phục hồi chức năng, đòi hỏi tiêu chuẩn chuyên môn và quy trình y khoa. Trong khi đó, du lịch chăm sóc sức khỏe hướng đến nghỉ dưỡng, phòng ngừa, cải thiện thể chất và tinh thần.
Hai hướng này có thể bổ trợ nhau nhưng khác biệt về đối tượng khách và cách tổ chức dịch vụ.
Huế cần xác định rõ thị trường muốn hướng đến: người đến điều trị chuyên sâu, người có nhu cầu phục hồi chức năng, khách sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao hay bệnh nhân quốc tế. Mỗi nhóm có nhu cầu và khả năng chi trả khác nhau.
Với bệnh nhân quốc tế, hành trình không chỉ dừng ở việc lựa chọn bệnh viện. Họ còn cần được tư vấn trước điều trị, hỗ trợ đặt lịch, phiên dịch, đi lại, lưu trú và chăm sóc sau khi xuất viện.
Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Malaysia những quốc gia đi trước trong lĩnh vực này cho thấy những dịch vụ hỗ trợ này là một phần quan trọng của du lịch y tế, bên cạnh năng lực chuyên môn của bệnh viện.
Mục tiêu gần 1 triệu lượt khám có phải là du khách?
TP. Huế đặt mục tiêu đến năm 2030, thu hút khoảng 800.000 lượt khách du lịch y tế nội địa mỗi năm và từ 8.000–10.000 lượt khách quốc tế mỗi năm. Nhưng cần phân biệt, đây là số lượt khám chữa bệnh hay số khách du lịch và cả số người có khả năng chi tiêu cho dịch vụ du lịch.
Tương tự, với du lịch mùa mưa, số sự kiện được tổ chức hay lượt khách tham gia chưa đủ để đánh giá hiệu quả. Điều quan trọng là sản phẩm có tạo được trải nghiệm khác biệt, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách hay không.
