Câu chuyện nông nghiệp hôm nay

Câu chuyện nông nghiệp hôm nay

El Niño 2026 - 2027 có thể thuộc nhóm mạnh nhất lịch sử

PHƯƠNG NHI • 07/11/2026 05:38

El Niño được dự báo duy trì cường độ mạnh trong mùa khô 2026 - 2027, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Tại Hội thảo “An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông”, tổ chức ngày 6/11 tại TP.HCM, các chuyên gia cảnh báo nguy cơ xâm nhập mặn diễn biến phức tạp trong mùa khô 2026 - 2027, ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.

Hội thảo do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức.

Xâm nhập mặn có thể vào sâu 130 km trên sông Vàm Cỏ Tây

ThS. Trần Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, cho biết nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động đồng thời của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thay đổi dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công, sụt lún đất và nhu cầu khai thác nước ngày càng tăng.

Theo dự báo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, trong mùa khô 2026 - 2027, ranh mặn 4 g/l trên sông Vàm Cỏ Đông có thể vào sâu 100 - 110 km, còn Vàm Cỏ Tây từ 115 - 130 km.

Tại các cửa sông khác, ranh mặn được dự báo xâm nhập khoảng 50 - 55 km tại Cửa Tiểu - Cửa Đại, 70 - 75 km tại Hàm Luông, 60 - 65 km tại Cổ Chiên, 58 - 60 km tại sông Hậu và 53 - 57 km tại sông Cái Lớn.

Lo ngại El Niño, xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long có thể vào sâu 130 km
Các chuyên gia lo ngại El Niño, xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long có thể vào sâu 130 km

So với những năm hạn mặn nghiêm trọng trước đây, mức dự báo tại một số cửa sông đã tiệm cận giá trị cực đoan từng ghi nhận. Chẳng hạn, tại Hàm Luông, ranh mặn lớn nhất năm 2016 là 73 km, năm 2020 là 78 km, trong khi mùa khô tới được dự báo ở mức 70 - 75 km.

Riêng Vàm Cỏ Tây, ranh mặn từng vào sâu 143 km trong năm 2020, cao hơn mức dự báo lớn nhất của mùa khô 2026 - 2027.

Một vấn đề đáng chú ý được ông Tuấn đề cập là Đồng bằng sông Cửu Long không thiếu nước nếu chỉ xét tổng lượng nước đến, nhưng vẫn xảy ra thiếu nước ngọt tại nhiều khu vực.

Cụ thể, tổng nhu cầu nước của các ngành trong mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 5, khoảng 15,3 tỉ m³, trong khi lượng nước đến trung bình khoảng 97 tỉ m³. Ngay cả năm kiệt nghiêm trọng 2019 - 2020, lượng nước đến vẫn đạt khoảng 55 tỉ m³.

Tuy nhiên, nguồn nước không phân bố đồng đều theo thời gian và không gian. Cùng với xâm nhập mặn và những hạn chế trong điều tiết, dẫn nước, tình trạng thiếu nước ngọt cục bộ vẫn xảy ra, nhất là tại các vùng sản xuất phụ thuộc vào hệ thống sông, kênh, rạch.

1793953774437_5292145672992885251_g5058614269008201537_72d2e4b0300631ae4871b71581375e26.jpg
Các chuyên gia thảo luận về giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước

El Niño mạnh làm gia tăng nguy cơ thiếu nước mùa khô

PGS.TS Nguyễn Văn Hồng, Phó Phân viện trưởng Phân viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, cảnh báo El Niño giai đoạn 2026 - 2027 có khả năng đạt cường độ rất mạnh, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại Nam Bộ.

Theo ông Hồng, dị thường nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực Niño 3.4 đạt khoảng +2,5°C vào cuối tháng 10/2026. Xác suất El Niño duy trì cường độ mạnh đến rất mạnh trong giai đoạn tháng 1 - 3/2027 được dự báo vượt 83%.

Trong điều kiện nhiệt độ toàn cầu gia tăng, El Niño có thể làm giảm lượng mưa theo mùa, khiến mùa mưa kết thúc sớm, gia tăng bốc thoát hơi nước và kéo dài thời gian thiếu nước trong mùa khô.

Theo kịch bản El Niño rủi ro cao, ranh mặn 4 g/l tại hệ thống sông Vàm Cỏ có thể vào sâu 90 - 125 km, Cửa Tiểu 85 - 90 km, Hàm Luông 70 - 80 km và sông Hậu 55 - 62 km.

Đáng chú ý, trong kịch bản rủi ro rất cao, khi El Niño rất mạnh kéo dài đến giữa năm 2027 và nguồn nước thượng nguồn suy giảm mạnh, báo cáo đưa ra nguy cơ khoảng 350.000 ha lúa đông xuân bị ảnh hưởng bởi thiếu nước.

Trước nguy cơ trên, ông Hồng đề xuất tăng cường giám sát diễn biến El Niño, dòng chảy sông Mê Kông, mực nước hồ chứa và độ mặn tại các cửa sông. Đồng thời, xây dựng bản đồ rủi ro để xác định những vùng sản xuất, công trình cấp nước có nguy cơ bị ảnh hưởng, làm cơ sở điều chỉnh lịch gieo trồng và chuẩn bị phương án cấp nước dự phòng.

Cùng với đó, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đề xuất rà soát quy trình vận hành liên hệ thống thủy lợi, tăng cường kết nối nguồn nước giữa các khu vực và nâng cao khả năng trữ nước ngọt.

Theo tính toán của Viện, mạng lưới kênh, rạch trong các hệ thống thủy lợi hiện nay có khả năng trữ khoảng 2,5 - 3 tỉ m³ nước. Ngoài ra, có thể mở rộng các hình thức trữ nước phân tán thông qua ao, bể chứa hộ gia đình, mương vườn và ruộng lúa.

Về lâu dài, Viện kiến nghị nghiên cứu xây dựng các công trình kiểm soát tại cửa sông Vàm Cỏ và Hàm Luông, kết hợp chuyển nước ngọt từ những khu vực có nguồn nước dồi dào đến các vùng khan hiếm, giảm rủi ro cho sản xuất nông nghiệp trước những biến động của nguồn nước.

PHƯƠNG NHI