Câu chuyện nông nghiệp hôm nay
Nguồn nông sản tỉ USD phía Nam: Muốn bứt phá phải làm chủ công nghệ
Sở hữu nhiều ngành hàng xuất khẩu tỉ USD, khu vực phía Nam có lợi thế lớn để phát triển nông nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho nông sản.
Tại Hội nghị “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía Nam”, tổ chức ngày 2/11 tại Cần Thơ, lãnh đạo nhiều địa phương, doanh nghiệp và nhà khoa học đã cùng nhận diện những điểm nghẽn, đồng thời đề xuất giải pháp đưa công nghệ đi sâu vào từng ngành hàng.

Nông nghiệp phía Nam từ tăng sản lượng sang nâng giá trị
Một trong những vấn đề được đặt ra tại hội nghị là mô hình tăng trưởng nông nghiệp dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô sản xuất và khai thác lợi thế tài nguyên đang dần chạm giới hạn. Chi phí đầu vào còn cao, tổn thất sau thu hoạch lớn, chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi liên kết chuỗi và ứng dụng công nghệ vẫn chưa đồng đều.
Thực tế ở ngành rau quả cho thấy dư địa tăng trưởng không nhất thiết phải đến từ việc mở rộng diện tích. Theo ông Phạm Quốc Liêm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp U&I (Unifarm), năm 2025, xuất khẩu rau quả đạt khoảng 8,6 tỉ USD; trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7,28 tỉ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ.

Đáng chú ý, ngành chuối có thể trở thành ngành hàng xuất khẩu tỉ USD nếu nâng được tỷ lệ diện tích đạt chuẩn và năng suất thương phẩm. Cả nước hiện có khoảng 163.000 ha chuối, nhưng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 mới đạt gần 420 triệu USD. Theo tính toán của ông Liêm, nếu chuẩn hóa 24.000 ha vùng trồng, tương đương khoảng 15% diện tích hiện có, đồng thời nâng sản lượng thương phẩm xuất khẩu lên 60 tấn/ha, ngành chuối có thể đạt kim ngạch 1 tỉ USD.
Điều đó cho thấy, công nghệ giống, quy trình canh tác, quản lý vùng trồng và sau thu hoạch có thể tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với cách tiếp cận chỉ chạy theo diện tích. Cùng với đó, việc tổ chức liên kết chuỗi, xác định doanh nghiệp đầu tàu và bảo đảm lợi ích của người sản xuất sẽ quyết định khả năng duy trì vùng nguyên liệu đạt chuẩn.
Công nghệ giống là nền tảng của năng lực cạnh tranh
Ở nhiều ngành hàng, điểm nghẽn đầu tiên nằm ngay từ đầu vào: chất lượng con giống. Với cá tra, ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,8-2,4 tỉ USD mỗi năm, ông Nguyễn Quang Vinh, Giám đốc Công ty Vĩnh Hoàn Aqua, cho rằng dư địa phát triển nằm ở cải thiện giống, chủ động phòng bệnh, tiết kiệm thức ăn và nước, tự động hóa, chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm.
Nguồn giống chưa ổn định, dịch bệnh gây hao hụt và chi phí sản xuất tăng vẫn là những thách thức với doanh nghiệp. Ông Nguyễn Quang Vinh kiến nghị xây dựng chương trình quốc gia về cơ sở dữ liệu gen và chọn lọc giống cá tra, đầu tư hạ tầng phân tích gen, phát triển trung tâm giống chuẩn, đồng thời đẩy nhanh nghiên cứu và kiểm định vaccine.
Trong chăn nuôi heo, BAF Việt Nam xác định công nghệ chọn lọc gen là hướng đi chiến lược để nâng cao hiệu quả sản xuất. Doanh nghiệp đặt mục tiêu cung ứng 10 triệu heo thương phẩm mỗi năm vào năm 2030. Với quy mô này, nếu giảm được 0,1 đơn vị hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), lượng thức ăn tiết kiệm có thể lên tới khoảng 115.000 tấn mỗi năm.
Năm 2026, BAF phối hợp với các nhà khoa học lấy mẫu và gửi giải trình tự gen 3.000 mẫu, bước đầu xác định các gen liên quan đến năng suất sinh sản, hiệu quả chuyển hóa thức ăn, chất lượng thịt và khả năng thích nghi. Tuy nhiên, việc thiếu quần thể tham chiếu và dữ liệu di truyền, kiểu hình đủ lớn khiến doanh nghiệp khó phát triển công nghệ chọn giống ở quy mô cao hơn.
Với lĩnh vực thủy sản, đại diện Tập đoàn Việt Úc cho biết đã xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ chọn giống tôm thẻ chân trắng, với hơn 1,2 triệu cá thể được đánh giá các tính trạng và hơn 100.000 cá thể có dữ liệu hệ gen. Việc kết hợp giải trình tự gen, mô hình toán học và công nghệ phân tích giúp cải thiện độ chính xác của giá trị gây giống ước tính đối với tính trạng tăng trưởng và sống sót so với phương pháp truyền thống.

Những ví dụ này cho thấy làm chủ công nghệ giống không chỉ giúp tăng năng suất, mà còn giảm phụ thuộc vào nguồn giống bên ngoài, chủ động thích ứng dịch bệnh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây là nền tảng quan trọng để các ngành hàng duy trì lợi thế cạnh tranh dài hạn.
AI, dữ liệu số đi vào trang trại và vùng nuôi
Nếu công nghệ gen tạo nền tảng cho chất lượng đầu vào, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và dữ liệu số đang mở ra phương thức quản trị sản xuất mới.
Tại GreenFeed, camera kết hợp AI được sử dụng để tự động đếm heo tại các điểm nhập, xuất, bán hàng; giám sát việc thực hiện quy trình an toàn sinh học và phát hiện những tình huống cần kiểm tra. Dữ liệu sản xuất, chi phí và bán hàng được kết nối trên nền tảng chung; vật nuôi được định danh bằng thẻ điện tử RFID, trong khi hệ thống SCADA/IoT và cảm biến hỗ trợ điều khiển môi trường chuồng nuôi.
Trong mô hình chăn nuôi bò của THACO AGRI, chip định danh điện tử và phần mềm quản trị được ứng dụng để quản lý đàn, kiểm soát chi phí. Doanh nghiệp đang vận hành 5 trang trại tại Việt Nam, Lào và Campuchia, với tổng đàn hơn 190.000 con. Mục tiêu đến năm 2032 là nâng tổng đàn lên 420.000 con, đồng thời phát triển mô hình tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm cây trồng làm thức ăn và xử lý phân bò thành phân hữu cơ.
Ở Cà Mau, địa phương dự kiến lựa chọn 3-5 vùng hoặc cụm nuôi tôm trong giai đoạn 2026-2027 để thí điểm tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Các mô hình sẽ được đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể như tỷ lệ sống, năng suất, chi phí và chất lượng sản phẩm. Dữ liệu môi trường, vùng nuôi, con giống và sản lượng cũng sẽ từng bước được số hóa, phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc.
Điểm chung của các mô hình là công nghệ không đứng riêng lẻ mà được tích hợp vào quy trình sản xuất, từ quản lý vật nuôi, kiểm soát môi trường đến dự báo và điều hành. Tuy nhiên, để các ứng dụng này lan tỏa, cần có hạ tầng dữ liệu đủ tốt, tiêu chuẩn kết nối thống nhất và khả năng tiếp cận công nghệ của cả doanh nghiệp lẫn hợp tác xã, người sản xuất.
Tháo điểm nghẽn để công nghệ
Thực tế tại hội nghị cho thấy, khó khăn lớn không chỉ nằm ở trình độ công nghệ mà còn ở thể chế, nguồn lực và cách tổ chức sản xuất. Dữ liệu ngành còn phân tán, thiếu liên thông; đầu tư nghiên cứu chưa gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp; nguồn nhân lực chuyên sâu còn thiếu. Hạ tầng bảo quản, chế biến sâu và logistics cũng chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
Một số kiến nghị cụ thể phản ánh rõ những vướng mắc này. THACO AGRI đề xuất đơn giản hóa thủ tục kiểm dịch, cho phép đăng ký kế hoạch vận chuyển bò theo năm thay vì từng lô, đồng thời thúc đẩy công nhận kết quả kiểm dịch giữa Việt Nam, Lào và Campuchia. Doanh nghiệp cũng kiến nghị nghiên cứu cơ chế sử dụng đàn bò được định danh điện tử làm tài sản bảo đảm để tiếp cận vốn trung và dài hạn.
Với ngành cá tra, yêu cầu hoàn thiện quy định về thu gom, vận chuyển và tái chế bùn thải ao nuôi được đặt ra nhằm thúc đẩy tận dụng phụ phẩm, phát triển kinh tế tuần hoàn. Trong khi đó, Cần Thơ kiến nghị xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung, kết nối và chia sẻ thông tin giữa Trung ương, địa phương và doanh nghiệp.
Từ góc độ quản lý ngành, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chỉ ra năm điểm nghẽn lớn: cơ chế đầu tư và nghiên cứu chưa gắn với nhu cầu doanh nghiệp; năng lực tự chủ công nghệ và nguyên liệu đầu vào còn hạn chế; sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi thiếu bền vững; hạ tầng bảo quản, chế biến sâu chưa đồng bộ; dữ liệu ngành phân tán, thiếu liên thông. Đáng chú ý, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước mới đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu.
Bởi vậy, giải pháp cần chuyển từ hỗ trợ nghiên cứu riêng lẻ sang đặt hàng giải quyết những bài toán cụ thể của từng ngành hàng. Nhà nước cần ưu tiên công nghệ lõi, cơ sở dữ liệu dùng chung, hạ tầng nghiên cứu và cơ chế hợp tác công tư; doanh nghiệp đóng vai trò đưa công nghệ vào sản xuất, thương mại hóa kết quả nghiên cứu; viện, trường tập trung nghiên cứu ứng dụng và đào tạo nhân lực.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh khu vực phía Nam có lợi thế để đi đầu trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp hiện đại, giá trị gia tăng cao. Hội nghị cần xác định rõ các bài toán ưu tiên, những vướng mắc về thể chế, chính sách, nguồn lực và địa chỉ ứng dụng cụ thể.
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD; trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng toàn ngành đạt 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD. Những kết quả này cho thấy vai trò ngày càng rõ của nông nghiệp trong nền kinh tế, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải nâng chất lượng tăng trưởng.
Sức bật mới của nông sản phía Nam vì thế không thể chỉ trông chờ vào lợi thế đất đai, khí hậu hay quy mô sản xuất. Đó phải là sức bật từ giống tốt hơn, quy trình thông minh hơn, dữ liệu minh bạch hơn, chế biến sâu hơn và liên kết chuỗi chặt chẽ hơn. Khi khoa học công nghệ giải quyết được những vấn đề cụ thể của người sản xuất và doanh nghiệp, giá trị của nông sản mới có thể tăng lên một cách bền vững.

