Thị trường nông nghiệp
Thị trường nông sản 26/10: Cà phê nội địa rơi khỏi mốc 90.000 đồng, hồ tiêu và lúa gạo giữ nhịp bình ổn
Thị trường nông sản ghi nhận đợt lao dốc mạnh của cà phê Tây Nguyên về mức thấp nhất kể từ đầu tháng 10. Trong khi đó, hồ tiêu, lúa gạo và cao su giữ nhịp ổn định, còn sầu riêng phân hóa mạnh theo vùng thu mua.
Cà phê thủng mốc 90.000 đồng/kg
Thị trường nông sản sáng nay chứng kiến giá cà phê trong nước có phiên điều chỉnh giảm sâu, đẩy giá thu mua tại các vùng trọng điểm Tây Nguyên rơi xuống dưới ngưỡng 90.000 đồng/kg. Hiện mức giao dịch dao động từ 89.000 đến 89.500 đồng/kg.
Cụ thể, cập nhật mới nhất từ giacaphe.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) là khu vực ghi nhận biên độ giảm mạnh nhất lên tới 1.500 đồng/kg, đưa giá thu mua lùi về mốc 89.500 đồng/kg.
Cùng giao dịch ở mức 89.500 đồng/kg là hai địa phương Đắk Lắk và Gia Lai sau khi đồng loạt giảm 1.300 đồng/kg so với lần cập nhật trước.
Trong khi đó, tại khu vực Lâm Đồng cũ, giá cà phê cũng điều chỉnh giảm 1.200 đồng/kg và hiện đứng ở mức 89.000 đồng/kg, thấp nhất trong các khu vực khảo sát.
Như vậy, sau đợt điều chỉnh giảm sâu này, thị trường cà phê nội địa đã mất khoảng 4.000 đến 5.000 đồng/kg chỉ trong một thời gian ngắn, rơi về vùng giá thấp nhất kể từ đầu tháng 10.
Đà lao dốc của thị trường nội địa diễn ra cùng chiều với sự suy yếu trên các sàn giao dịch kỳ hạn quốc tế.
Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 11/2026 giảm 60 USD/tấn, tương đương 1,82%, lùi về mốc 3.228 USD/tấn
Hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2027 giảm 59 USD/tấn xuống còn 3.242 USD/tấn
Diễn biến tương tự cũng xuất hiện trên sàn New York khi giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 mất 5 US cent/lb, tương đương mức giảm 1,60%, rơi xuống 307,45 US cent/lb
Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 4,05 US cent/lb còn 293,40 US cent/lb

Hồ tiêu đi ngang ở cả thị trường nội địa và quốc tế
Trái ngược với sự biến động mạnh của giá cà phê, mặt hàng hồ tiêu trong nước sáng nay tiếp tục giữ nhịp ổn định từ 137.000 đến 140.000 đồng/kg.
Theo giatieu.com, hai địa phương hiện dẫn đầu về giá thu mua là Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) cùng neo ở mức đỉnh 140.000 đồng/kg
Còn tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), thương lái đang thu mua hồ tiêu ở mức 137.500 đồng/kg
Hai địa phương ghi nhận mức giao dịch thấp nhất thị trường là Gia Lai và Đồng Nai, hiện cùng giao dịch ở mốc 137.000 đồng/kg
Trên thị trường thế giới, dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cũng cho thấy sự bình lặng tại các quốc gia sản xuất lớn khi bảng giá không ghi nhận biến động mới so với phiên trước
Cụ thể, ở phân khúc tiêu đen, Malaysia tiếp tục dẫn đầu với mức chào bán 9.100 USD/tấn. Indonesia giữ nguyên ở mức 6.850 USD/tấn
Ngược lại, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 có mức giá thấp nhất trong nhóm các nhà xuất khẩu hàng đầu khi giao dịch ở mức 5.800 USD/tấn
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l hiện duy trì ở mức 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l được giao dịch ở mức 5.995 USD/tấn
Ở phân khúc tiêu trắng, mặt bằng giá cũng đi ngang
Thị trường nông sản ghi nhận lúa gạo giao dịch ổn định
Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, sáng nay thị trường lúa gạo nguyên liệu và lúa tươi trong nước duy trì trạng thái giao dịch ổn định.
Cụ thể, ở nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu, giống OM 5451 hiện có giá cao nhất khi dao động từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.200 đến 9.400 đồng/kg
Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động từ 8.950 đến 9.100 đồng/kg. Gạo CL 555 ở mức 8.950 đến 9.100 đồng/kg và gạo OM 18 đạt từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg
Đối với mặt hàng lúa tươi, giống lúa DS1 và OM 18 đang dẫn đầu về giá thu mua khi lần lượt dao động ở mức 6.500 đến 6.600 đồng/kg và 6.400 đến 6.600 đồng/kg
Lúa tươi Đài Thơm 8 theo sát ở mốc 6.300 đến 6.500 đồng/kg, lúa tươi OM 5451 đạt từ 6.100 đến 6.200 đồng/kg. Trong khi đó, lúa tươi IR 50404 dao động từ 5.900 đến 6.100 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo tại các quốc gia xuất khẩu chủ lực ít biến động.
Hiện gạo Jasmine của Việt Nam duy trì trong khoảng 518 đến 522 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm giao dịch từ 470 đến 475 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm dao động từ 423 đến 427 USD/tấn
Đối với phân khúc gạo trắng 5% tấm trên thế giới, Thái Lan tiếp tục giữ vị trí cao nhất trong số các nhà xuất khẩu hàng đầu với mức chào bán 474 đến 478 USD/tấn.
Cùng chủng loại này, gạo của Pakistan đang giao dịch ở mức 408 đến 412 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì từ 384 đến 388 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm của quốc gia này có giá từ 380 đến 384 USD/tấn
Sầu riêng phân hóa mạnh theo vùng
Theo khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net, thị trường sầu riêng trong nước sáng nay ghi nhận sự phân hóa rõ rệt về mặt bằng giá giữa các vùng thu mua cũng như giữa các phân khúc chất lượng cao.
Cụ thể, sầu riêng Black Thorn tại Lâm Đồng đang nắm giữ vị trí đắt đỏ nhất thị trường với hàng loại A đạt 155.000 đồng/kg và loại B ở mức 135.000 đồng/kg.
Còn Musang King loại A đang giao dịch ở mức 150.000 đồng/kg và loại B là 130.000 đồng/kg
Ở nhóm sầu riêng phổ biến, khu vực ĐBSCL đang là nơi có giá thu mua sầu riêng Ri6 tốt nhất cả nước. Tùy theo chất lượng và kho thu mua, Ri6 loại A tại miền Tây dao động từ 79.000 đến 80.000 đồng/kg, loại B từ 64.000 đến 65.000 đồng/kg.
Trong khi đó, tại hai tỉnh Tây Nguyên là Đắk Lắk và Gia Lai, giá sầu riêng Ri6 thấp hơn đáng kể, hàng loại A cùng đứng ở mức 35.000 đồng/kg, còn hàng loại B tại Đắk Lắk đạt 25.000 đồng/kg.
Đối với dòng sầu riêng Thái, hiện Đắk Lắk đang dẫn đầu biên độ trần khi thu mua hàng loại A từ 85.000 đến 92.000 đồng/kg, loại B từ 65.000 đến 72.000 đồng/kg.
Tại ĐBSCL, sầu Thái loại A bám sát ở mức 87.000 đến 91.000 đồng/kg, loại B từ 67.000 đến 70.000 đồng/kg.
Còn tại khu vực Gia Lai, sầu Thái loại A được thu mua từ 81.000 đến 83.000 đồng/kg, loại B ở mức 61.000 đồng/kg. Khu vực Lâm Đồng ghi nhận mức giá sầu Thái thấp hơn cả, với hàng loại A từ 78.000 đến 81.000 đồng/kg, loại B từ 58.000 đến 61.000 đồng/kg, loại C thương lượng.
Cao su trong nước giữ giá, các sàn kỳ hạn châu Á diễn biến trái chiều
Thị trường mủ cao su nguyên liệu trong nước sáng nay tiếp tục duy trì sự ổn định tại các doanh nghiệp lớn so với phiên trước.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Bình Long, mức giá thu mua mủ nước tại nhà máy đang áp dụng là 540 đồng/độ TSC/kg.
Tại Công ty MangYang, giá mủ nước dao động từ 458 đến 463 đồng/độ TSC tùy theo phân loại từ loại 2 đến loại 1.
Còn tại Cao su Bà Rịa, mức giá 420 đồng/độ TSC/kg được áp dụng cho mủ có độ TSC từ 25 đến dưới 30. Tại Cao su Phú Riềng, bên cạnh giá mủ nước ổn định, giá thu mua mủ tạp cũng được duy trì ở mức 390 đồng/độ DRC.
Trên thị trường quốc tế, giá cao su tại các sàn giao dịch lớn ở châu Á vừa kết thúc phiên với sự phân hóa rõ nét.
Sắc xanh duy nhất ghi nhận trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) của Trung Quốc, nơi giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 11 tăng 30 Nhân dân tệ/tấn, tương đương tăng 0,16%, vươn lên mốc 19.005 Nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 theo điều kiện FOB Laem Chabang tiếp tục đi ngang ở mức 96,2 Baht/kg.
Ở chiều ngược lại, áp lực điều chỉnh giảm bao trùm sàn giao dịch Nhật Bản và Singapore.
Trên sàn TOCOM (Tokyo) của Nhật Bản, giá cao su RSS3 hợp đồng giao tháng 11 giảm 2,50 Yên/kg, tương đương mất 0,57%, lùi về mốc 438 Yên/kg.
Tương tự, trên Sàn Giao dịch SGX của Singapore, hợp đồng cao su TSR20 kỳ hạn tháng 11 ghi nhận mức sụt giảm mạnh nhất từ 258,30 xuống còn 255,90 cent/kg, tương ứng mất 0,93%.

