Văn hóa

Văn hóa

Gio An, ngàn năm ơn giếng nuôi người

KIÊN ĐỒNG • 25/10/2026 07:36

Giữa miền đất Quảng Trị khô rát, những mạch nước ở giếng cổ Gio An vẫn âm thầm chảy qua các bể đá, máng dẫn, tưới tắm những luống rau xanh non và đồng lúa.

Giếng cổ Gio An - công trình của người xưa - không chỉ lưu giữ dấu tích của kỹ thuật dẫn thủy cổ mà còn tiếp tục nuôi sống những thế hệ người dân hôm nay. Bên dòng nước ấy, lịch sử của một di sản và câu chuyện mưu sinh vẫn đang tiếp diễn.

Mạch nguồn vẫn chảy mãi.
Mạch nguồn vẫn chảy mãi.

Mạch nước giữa miền đất khát Gio An

Những cơn gió Lào vẫn tràn qua triền đồi, hun nóng đất đai, cong khô đến cả bờ ruộng. Ở Quảng Trị, tìm được nguồn nước, giữ được nước và đưa nước đến nơi cần đến từ lâu đã là nỗi khao khát mãnh liệt của bao thế hệ.

Tại Gio An, nay thuộc xã Cồn Tiên, những mạch nước từ lòng đất trồi lên, len qua các bể đá, theo máng dẫn rồi chảy về ruộng đồng. Từ những công trình xây bằng đá mồ côi, nước theo đường dẫn đến các luống rau xanh mướt dưới chân đồi, rồi tiếp tục tưới cho những chân ruộng lúa. Dòng nước ấy tạo nên một không gian sinh tồn đặc biệt.

Người hôm nay quen gọi những công trình này là hệ thống giếng cổ Gio An. Nhưng tên gọi ấy có từ bao giờ, người xưa từng gọi chúng bằng cái tên nào, ai là người đầu tiên tạo dựng những bể chứa và đường dẫn nước? Những câu hỏi ấy vẫn chưa có lời giải thỏa đáng.

img_20261022_140732_hdr.jpg
Giếng Bà, theo cách gọi dân gian của người Hảo Sơn, Cồn Tiên là một trong những giếng được biết tới nhiều nhất.

Điều hiện hữu là cách người xưa tận dụng địa hình, khai thác nguồn nước tự nhiên và tổ chức dòng chảy phục vụ đời sống. Các bể đá, máng dẫn kết nối thành một hệ thống, đưa nước từ nơi phát lộ mạch ngầm đến không gian sinh hoạt và sản xuất của con người.

Trong sách Khảo về Quảng Trị xưa, nhà nghiên cứu Lê Đức Thọ đặt các công trình khai thác nước cổ ở Quảng Trị trong bối cảnh lịch sử lâu dài của vùng đất này.

Theo ông, trước điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, những thế hệ cư dân đã tìm tòi, sáng tạo những phương thức khai thác nguồn nước phù hợp với địa hình và thủy văn. Trong quá trình ấy, các cộng đồng kế thừa thành tựu văn hóa của nhau, trong đó có những đóng góp quan trọng của một bộ phận cư dân Champa.

Trẻ em nô đùa bên giếng cổ.
Trẻ em nô đùa bên giếng cổ.

Qua nhiều biến động của lịch sử, những công trình khai thác nước với quy mô, tính chất và kỹ thuật khác nhau đã hình thành, mất đi và một số còn tồn tại đến ngày nay.

Nuôi làng từ những mùa rau

Với ông Trần Hữu Quế, người làng Hảo Sơn, xã Cồn Tiên những chiếc giếng cổ không chỉ là dấu tích của người xưa. Chúng còn gắn câu chuyện ông nghe từ thuở nhỏ về những mùa rau quê nhà.

Ông Trần Hữu Quế từng nghe kể rằng, rau liệt (xà lách xoong) do người Pháp đưa sang.
Từng nghe kể rằng, rau liệt (xà lách xoong) do người Pháp đưa sang.

Ông Quế cho biết, ở Hảo Sơn từng có rất nhiều giếng nước cổ, trong đó nổi tiếng và được nhiều người biết đến là giếng Ông, giếng Bà và giếng Gai. Nước từ các giếng này đều đổ về hồ Sen - nơi vốn trước đây trồng rất nhiều sen. Từ những bể, giếng ấy, nước tiếp tục theo các đường dẫn, phục vụ sinh hoạt và sản xuất của người dân quanh vùng.

Theo tập tục sử dụng được lưu truyền ở địa phương, mỗi bể có một công năng riêng: bể lắng dùng lấy nước sinh hoạt, bể chứa phục vụ tắm giặt; một số bể dành cho vật nuôi uống nước. Trong hệ thống có những giếng được gọi là giếng Ông, giếng Bà, gắn với cách phân định nơi sử dụng của đàn ông và đàn bà.

Giếng Ông gắn với tập tục vốn quy ước chỉ dành riêng cho đàn ông tắm rửa.
Giếng Ông gắn với tập tục vốn quy ước chỉ dành riêng cho đàn ông tắm rửa.

Những tên gọi và quy ước ấy phản ánh cách cộng đồng tổ chức đời sống quanh nguồn nước. Khi nhiều thế hệ cùng phụ thuộc vào một mạch nước tự nhiên, việc phân định nơi lấy nước, tắm giặt hay dành cho vật nuôi cũng trở thành một phần nếp sống của làng.

Sau khi phục vụ đời sống, nước tiếp tục chảy qua hệ thống kênh dẫn, tưới những đám rau liệt, tên gọi địa phương của cây xà lách xoong. Từ các luống rau, dòng nước lại đổ ra hồ hoặc xuống ruộng.

img_20261022_143500_hdr(1).jpg
Mùa rau liệt ở Gio An thường bắt đầu từ tháng 10 và kéo dài đến cuối tháng 2 âm lịch.

Mùa rau liệt ở Gio An thường bắt đầu từ tháng 10 và kéo dài đến cuối tháng 2 âm lịch năm sau. Trong những tháng ấy, nước từ hệ thống giếng cổ tiếp tục nuôi dưỡng những luống rau xanh mướt. Cây rau không chỉ góp thêm thức ăn cho bữa cơm mà còn trở thành nguồn thu đáng kể đối với nhiều gia đình.

Chị Trần Thị Kiều, một người trồng rau liệt lâu năm cho biết, mỗi bó rau liệt được bán với giá khoảng 15.000 đồng. Một năm, người trồng có thể thu hoạch từ 6-7 lứa. "Với mỗi sào rau, doanh thu có thể đạt khoảng 40 triệu đồng/năm. Những hộ trồng đến 4 sào có thể đạt doanh thu khoảng 150 triệu đồng mỗi năm", chị Kiều nói.

Riêng làng Hảo Sơn có gần 200 hộ thì đã có 75 hộ trồng rau liệt với diện tích khác nhau. Từ nguồn nước của hệ thống giếng cổ, từ lâu những luống rau đã trở thành một phần sinh kế của người dân.

Không chỉ có cây rau liệt, mạch nước cổ này còn nuôi sống người Cồn Tiên với khoảng 70ha lúa một vụ. Từ bao đời nay, cây lúa giúp các hộ gia đình nơi đây chủ động một phần lương thực, duy trì sản xuất và gắn bó với đồng ruộng.

img_20261022_141704_hdr.jpg
Những luống rau đã trở thành một phần sinh kế của người dân Gio An.

Theo ông Lê Phước Hiếu, Phó Chủ tịch UBND xã Cồn Tiên, trong điều kiện nguồn lúa gạo dồi dào hiện nay, địa phương đang hướng tới xây dựng vùng sản xuất gạo sạch, chất lượng cao, tận dụng lợi thế nguồn nước ngọt từ hệ thống dẫn thủy cổ.

"Nếu làm thành công có thể hình thành một thương hiệu gạo giếng cổ với lợi thế từ nguồn nước ngầm hiếm có ở địa phương", ông Hiếu nói.

Giữ mạch nguồn

Dẫu vậy, thực tế cho thấy, mối gắn bó giữa người dân với những mạch nước cổ đang dần đổi thay theo nhịp sống hiện đại.

Theo ông Lê Phước Hiếu, cùng với sự thay đổi trong đời sống, phần lớn người dân không còn dùng nước giếng cổ để uống mà chuyển sang giếng khoan vì thuận tiện hơn. Nguồn nước từ hệ thống dẫn thủy xưa hiện chủ yếu phục vụ trồng rau, sản xuất lúa, chăn nuôi và một số nhu cầu khác.

Những bờ thửa bằng đá tròn khi xưa nay đang dần thay thế bằng loại đá chẻ để thuận tiện di chuyển.
Những bờ thửa bằng đá tròn khi xưa nay đang dần thay thế bằng loại đá chẻ để thuận tiện di chuyển.

Khi không còn phục vụ nhu cầu ăn uống, điều khiến ông Hiếu lo ngại là hoạt động canh tác của người dân trên các triền đồi có thể tác động đến nguồn nước ngầm nuôi dưỡng hệ thống giếng cổ. Ông cho rằng cần nghiên cứu trồng thêm các loại cây rừng phù hợp để giữ đất, bảo vệ thảm thực vật, qua đó góp phần gìn giữ nguồn nước trong lòng đất.

Dù được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 2001, hệ thống giếng cổ Gio An vẫn chưa được quảng bá và khai thác du lịch tương xứng với giá trị. Việc kết nối di tích với các tour, tuyến còn hạn chế, lượng khách đến tham quan mang tính mùa vụ, trình diễn.

Hôm chúng tôi đến, gần như không có bóng dáng du khách. Quanh những bể đá, máng dẫn nước chỉ lác đác người dân địa phương đi làm đồng. Người bạn đi cùng tôi nói rằng, thật đáng tiếc cho một di tích hiếm có nhưng chưa trở thành điểm đến thu hút khách thường xuyên,

1792649904418_2240594487747176529_2240594487747176529_2a064fb219d1965830ff6b2eaed7f389(1).jpg
Chính quyền địa phương đã tổ chức một số đoàn cán bộ đến tham quan, tìm hiểu di tích, nhưng chưa hình thành hoạt động du lịch mang tính thương mại.

Theo ông Lê Phước Hiếu, Phó Chủ tịch UBND xã Cồn Tiên, địa phương đang hướng tới xây dựng thương hiệu du lịch cho hệ thống giếng cổ. Tỉnh cũng có đề án nâng hạng di tích lên cấp quốc gia đặc biệt nhằm tạo thêm cơ hội huy động nguồn lực bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản.

"Việc nâng hạng chỉ mới là một phần, còn để hình thành một điểm đến hấp dẫn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ và lâu dài hơn”, ông Hiếu cho biết.

Sức hấp dẫn của hệ thống giếng cổ Gio An không chỉ nằm ở những bể đá, máng dẫn nước hiếm có, mà còn ở giá trị vẫn hiện hữu trong đời sống hôm nay. Đã có những kế hoạch nhằm "đánh thức" di sản này. Nhưng từ kế hoạch đến hiện thực còn là chặng đường dài, đòi hỏi sự bền bỉ và trách nhiệm của những người thực hiện.

Qua bao dâu bể, những mạch nước ở Gio An vẫn chảy qua giếng đá, theo máng dẫn về ruộng rau, ruộng lúa. Và chừng nào dòng nước còn nuôi sống người dân thì giếng cổ vẫn còn hiện diện trong đời sống hôm nay, chứ không chỉ là dấu tích của người xưa.

KIÊN ĐỒNG