Thị trường nông nghiệp
Thị trường nông sản 24/10: Cà phê giảm phiên thứ ba liên tiếp, cao su thế giới khởi sắc
Giá cà phê trong nước giảm phiên thứ ba liên tiếp dưới áp lực tồn kho quốc tế. Trong khi đóm hồ tiêu, lúa gạo, sầu riêng giữ nhịp ổn định và cao su thế giới đón sắc xanh.
Cà phê quay về ngưỡng 90.000 đồng/kg
Thị trường nông sản trong nước sáng nay ghi nhận, giá cà phê tại Tây Nguyên tiếp tục giảm từ 500 đến 600 đồng/kg. Hiện giá thu mua dao động trong khoảng 90.200 đến 91.000 đồng/kg với mức trung bình đạt 90.900 đồng/kg (giảm 600 đồng/kg).
Cụ thể, cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), giá thu mua giảm 500 đồng/kg xuống 91.000 đồng/kg nhưng vẫn cao nhất vùng.
Hai địa phương là Đắk Lắk và Gia Lai cùng giảm 600 đồng/kg về mức 90.800 đồng/kg. Còn khu vực Lâm Đồng cũ cũng giảm 600 đồng/kg xuống mức thấp nhất là 90.200 đồng/kg.
Như vậy, sau ba phiên giảm liên tiếp từ vùng 94.000 đồng/kg hồi đầu tuần, giá cà phê tại một số nơi hiện chỉ còn cách mốc 90.000 đồng/kg vài trăm đồng.
Trên thị trường thế giới, đóng cửa phiên giao dịch hôm qua, giá robusta trên sàn London giảm phiên thứ tư liên tiếp.
Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 1,82% (60 USD/tấn) xuống 3.228 USD/tấn. Kỳ hạn tháng 1/2027 giảm 1,79% (59 USD/tấn) còn 3.242 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá arabica giao tháng 12/2026 giảm 1,6% (5 US cent/pound) xuống 307,45 US cent/pound. Kỳ hạn tháng 3/2027 giảm 1,36% (4,05 US cent/pound) về mức 293,40 US cent/pound.
Theo BarChart, giá arabica suy yếu do áp lực thanh lý dài hạn sau đợt tăng giữa tháng 10 và tâm lý lo ngại tồn kho ICE sớm gia tăng khi có gần 28.000 bao đang chờ phân loại, mức cao nhất trong hơn một tháng.
Thực tế, tồn kho arabica của ICE sau khi tăng 4.847 bao lên 239.748 bao vào thứ Tư đã giảm liên tiếp 5.315 bao vào thứ Năm và 6.455 bao vào thứ Sáu, lùi về đáy 5 tuần là 227.978 bao.
Mức này chỉ nhỉnh hơn một chút so với đáy 27 năm là 217.646 bao ghi nhận ngày 15/9, tạo yếu tố hỗ trợ tiềm ẩn cho giá arabica. Ngược lại, tồn kho robusta của ICE tăng vọt trong 6 tuần qua lên đỉnh 13 tháng với 6.612 lô vào thứ Sáu, trực tiếp gây sức ép giảm giá.

Hồ tiêu trong nước và thế giới đi ngang
Giá tiêu sáng nay tại các vùng trọng điểm trong nước giữ ổn định từ 137.000 đến 140.000 đồng/kg.
Theo cập nhật mới nhất từ giatieu.com, Đắk Lắk và khu vựv Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) dẫn đầu với 140.000 đồng/kg.
Kế đến là khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) đạt 137.500 đồng/kg. Còn Gia Lai và Đồng Nai hiện giá thu mua ở mức thấp nhất là 137.000 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cũng ghi nhận thị trường thế giới đi ngang.
Cụ thể,gGiá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn. Tiêu trắng giữ mức 8.450 USD/tấn.
Tại các quốc gia khác, tiêu đen Malaysia cao nhất với 9.100 USD/tấn. Indonesia duy trì mức 6.850 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil thấp nhất ở mức 5.800 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, hàng Muntok của Indonesia đứng ở mức 9.354 USD/tấn và Malaysia đạt 12.000 USD/tấn.
Lúa gạo giao dịch chậm, giá xuất khẩu giữ nhịp ổn định
Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, thị trường lúa gạo tại ĐBSCL sáng nay ít biến động và mua bán chậm.
Cụ thể, giá lúa tươi DS1 dao động từ 6.500 đến 6.600 đồng/kg, OM 18 từ 6.400 đến 6.600 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 6.300 đến 6.500 đồng/kg, OM 5451 từ 6.100 đến 6.200 đồng/kg. IR 50404 từ 5.900 đến 6.100 đồng/kg và OM 34 từ 5.900 đến 6.000 đồng/kg
Ở nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu, giống OM 5451 có giá từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg, IR 504 từ 8.900 đến 9.000 đồng/kg. CL 555 từ 8.800 đến 8.900 đồng/kg, OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg. Còn OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg
Trên thị trường xuất khẩu, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết giá gạo duy trì ổn định, trong đó gạo Jasmine đạt 518 đến 522 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm từ 470 đến 475 USD/tấn và gạo trắng 5% tấm từ 423 đến 427 USD/tấn
Cùng phân khúc gạo trắng 5% tấm, hàng Thái Lan cao nhất nhóm xuất khẩu chủ chốt với 474 đến 478 USD/tấn. Pakistan dao động từ 408 đến 412 USD/tấn. Ấn Độ ở mức 384 đến 388 USD/tấn (gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ giữ mức 380 đến 384 USD/tấn)
Thị trường nông sản ghi nhận sáng nay gầu riêng giao dịch ổn định
Theo khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net, giá thu mua sầu riêng tại các kho hôm nay duy trì ổn định.
Cụ thể, đối với sầu Thái, Đắk Lắk giữ mức cao nhất khi loại A đạt 82.000 đến 95.000 đồng/kg, loại B từ 65.000 đến 75.000 đồng/kg.
Tại ĐBSCL, sầu Thái loại A dao động từ 87.000 đến 90.000 đồng/kg, loại B từ 68.000 đến 70.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, sầu Thái loại A đạt 88.000 đồng/kg, loại B ở mức 75.000 đồng/kg. Tại Lâm Đồng, sầu Thái loại A có giá 80.000 đến 85.000 đồng/kg, loại B đạt 63.000 đồng/kg.
Với giống Ri6, khu vực ĐBSCL thu mua loại A từ 78.000 đến 82.000 đồng/kg, loại B từ 65.000 đến 78.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, Ri6 loại A cùng ở mức 35.000 đồng/kg, còn loại B lần lượt đạt 25.000 đồng/kg và 20.000 đồng/kg.
Riêng Lâm Đồng ghi nhận thêm sầu riêng Black Thorn loại A đạt 155.000 đồng/kg và loại B là 135.000 đồng/kg. Musang King loại A từ 149.000 đến 150.000 đồng/kg. Còn giống Chuồng Bò tại đây loại A đạt 70.000 đồng/kg và loại B ở mức 55.000 đồng/kg.
Cao su thế giới phủ sắc xanh, thị trường trong nước bình ổn
Thị trường cao su nội địa hôm nay vẫn chưa có sự biến động mới.
Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, loại 2 là 458 đồng/TSC/kg. Công ty Cao su Phú Riềng giữ giá mủ nước 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp 390 đồng/DRC/kg.
Còn tại Công ty Cao su Bà Rịa, mủ nước mức 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg (độ TSC từ 30 trở lên).
Trên thị trường quốc tế, hai sàn SHFE và SGX đồng loạt tăng nhẹ ở tất cả các kỳ hạn. Trong đó SGX có mức tăng đồng đều và nhỉnh hơn nhưng cả hai chưa tạo ra sự bứt phá mạnh.
Cụ thể, tại sàn SHFE Thượng Hải, giá cao su tự nhiên tăng. Với kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 0,16% lên 19.005 CNY/tấn. Kỳ hạn tháng 1/2027 tăng 0,43% đạt 19.700 CNY/tấn.
Tại sàn SGX Singapore, giá cao su TSR20 tăng, gồm kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 0,63% lên 255,90 Cent/kg. Kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 0,60% đạt 252,10 Cent/kg, tháng 1/2027 tăng 0,64% lên 250,50 Cent/kg.
Trong khi đó, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM Tokyo phân hóa rõ nét giữa các tháng giao hàng.
Hợp đồng giao tháng 10/2026 bật tăng 5,70% lên 463,50 JPY/kg, cao hơn kỳ hạn tháng 12 tới 28,50 JPY/kg, cho thấy mức giá cao tập trung ở hợp đồng gần giao hàng.
Ngược lại, kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 0,57% xuống 438 JPY/kg, tháng 12/2026 giảm 1,40% còn 435,00 JPY/kg.

