Cây trồng bản địa & Ứng dụng

Cây trồng bản địa & Ứng dụng

Lâm Đồng trước bài toán chuẩn hóa vùng dược liệu

Huu Nhat • 21/10/2026 15:36

Gần 2.900ha dược liệu cùng điều kiện sinh thái đa dạng tạo nền tảng để Lâm Đồng phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành dược. Tuy nhiên, diện tích lớn chưa đồng nghĩa với khả năng cung ứng nguyên liệu đạt chuẩn. Lộ trình đáp ứng GACP-WHO trước ngày 1/1/2030 đòi hỏi địa phương tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng từ vùng trồng và gắn tiêu chuẩn với đầu ra thị trường.

Cây atisô là hướng đi nhiều tiềm năng trong nông nghiệp ở Lâm Đồng. Ảnh: Baolamdong.vn
Cây atisô là hướng đi nhiều tiềm năng trong nông nghiệp ở Lâm Đồng. Ảnh: Baolamdong.vn

Khoảng cách giữa diện tích dược liệu và năng lực đạt chuẩn

Trong phát triển dược liệu, diện tích canh tác chỉ phản ánh một phần năng lực sản xuất. Để trở thành vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất thuốc, cây trồng cần có nguồn giống được kiểm soát, quy trình canh tác phù hợp, điều kiện thu hoạch và sơ chế đáp ứng yêu cầu chất lượng. Quá trình sản xuất cũng phải có hồ sơ theo dõi, khả năng truy xuất nguồn gốc và cơ chế kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến nguyên liệu.

Đó là những nội dung cốt lõi của GACP-WHO, bộ nguyên tắc Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc do Tổ chức Y tế thế giới hướng dẫn.

Lâm Đồng hiện có gần 2.900ha dược liệu, sản lượng hơn 22.000 tấn. Khu vực trung tâm có hơn 280ha atisô, sản lượng trên 8.100 tấn/năm. Xã Lạc Dương có khoảng 68,5ha atisô cùng các loại dược liệu như đẳng sâm, đương quy, sâm Việt Nam và sâm Lai Châu. Khu vực phía Tây có hơn 890ha dược liệu trồng xen cao su, sản lượng trên 10.200 tấn/năm. Khu vực phía Đông có tiềm năng phát triển trà hoa vàng, nấm lim xanh, sâm bố chính, xáo tam phân, đinh lăng và bạc hà.

Lâm Đồng có 6 mã số vùng trồng dược liệu nội địa với tổng diện tích gần 7ha, diện tích đạt GACP-WHO là 9ha và khoảng 2ha canh tác theo tiêu chuẩn hữu cơ (chưa xác định sự chồng lấn giữa các nhóm).

Để xác định khoảng cách đến mục tiêu năm 2030, tỉnh cần làm rõ cơ sở nào đã đáp ứng tiêu chuẩn, cơ sở nào đang hoàn thiện điều kiện sản xuất và vùng nào còn thiếu những yếu tố cơ bản. Đây là căn cứ lựa chọn đối tượng ưu tiên, bố trí nguồn lực và xây dựng tiến độ thực hiện.

Thực tế sản xuất atisô tại Đà Lạt cũng cho thấy những vấn đề cần rà soát. Theo tài liệu nghiên cứu phục vụ xây dựng nhãn hiệu chứng nhận Atisô Đà Lạt giai đoạn 2020 - 2021, phần lớn hộ được khảo sát tự nhân giống, nhiều hộ canh tác dựa vào kinh nghiệm và 76% số hộ chưa liên kết tiêu thụ. Dĩ nhiên, dữ liệu tại thời điểm 2021 chưa thể đại diện cho toàn tỉnh hiện nay, nhưng cho thấy giống cây và tổ chức đầu ra là những khâu cần được quan tâm khi chuẩn hóa vùng dược liệu.

Giống, chi phí và đầu ra quyết định khả năng duy trì tiêu chuẩn

Một thách thức lớn là chuyển từ mô hình trồng thử nghiệm sang vùng nguyên liệu có khả năng cung ứng ổn định. Một giống cây sinh trưởng tốt trên diện tích nhỏ chưa đủ để khẳng định khả năng mở rộng. Cơ sở sản xuất còn phải đánh giá khả năng thích nghi qua nhiều vụ, tính ổn định của nguồn giống, chất lượng nguyên liệu, năng suất và nhu cầu tiêu thụ.

Atisô là loài cây đáng chú ý vì Lâm Đồng đã có nền sản xuất, cơ sở chế biến và các mô hình liên kết với nông hộ. Tại Lạc Dương đã có doanh nghiệp từng phối hợp với người trồng thông qua hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm. Mô hình này có thể là cơ sở để nghiên cứu tổ chức vùng nguyên liệu có đơn vị điều phối. Tuy nhiên, liên kết sản xuất không đồng nghĩa vùng trồng đã đạt GACP-WHO; điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn vẫn cần được đánh giá riêng.

Vườn trà atiso của người dân liên kết với doanh nghiệp. Ảnh: THSP
Vườn trà atiso của người dân liên kết với doanh nghiệp. Ảnh: THSP

Chi phí tuân thủ cũng là vấn đề cần tính đến. Cơ sở sản xuất phải hoàn thiện điều kiện đất, nước, quản lý vật tư, quy trình canh tác, hồ sơ sản xuất, thu hoạch, sơ chế và bảo quản. Sau đầu tư ban đầu, việc ghi chép, kiểm soát và duy trì quy trình vẫn đòi hỏi nhân lực, kinh phí thường xuyên.

Với doanh nghiệp sở hữu vùng trồng tập trung, việc quản lý thống nhất có thể thuận lợi hơn. Trong khi đó, hộ sản xuất nhỏ cần được hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ tổ chức hồ sơ. Nếu từng hộ tự thực hiện toàn bộ yêu cầu, chi phí và năng lực quản lý có thể trở thành rào cản. Liên kết thông qua hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc đơn vị tổ chức vùng nguyên liệu là hướng cần xem xét để phân bổ trách nhiệm và chi phí.

Hiện chưa có đủ dữ liệu được kiểm chứng để xác định chi phí đưa một hecta dược liệu tại Lâm Đồng đạt GACP-WHO. Tỉnh cần khảo sát từng cơ sở, xác định những hạng mục đã đáp ứng và phần còn thiếu. Chính sách hỗ trợ nên tập trung vào các nhu cầu cụ thể như kiểm nghiệm, tư vấn kỹ thuật, đào tạo, hoàn thiện hồ sơ và hạ tầng sơ chế, bảo quản.

Đầu ra thị trường là điều kiện để duy trì tiêu chuẩn. Nếu không có khách hàng ổn định, người trồng khó tính toán hiệu quả của khoản đầu tư dài hạn. Khi doanh nghiệp chế biến tham gia từ đầu, yêu cầu về giống, chất lượng, sản lượng và sơ chế có thể được xác định trước. Người trồng có cơ sở lựa chọn cây phù hợp, còn doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch cung ứng nguyên liệu.

Vì vậy, những vùng có giống tương đối ổn định, điều kiện sinh thái phù hợp, nhu cầu tiêu thụ rõ ràng và doanh nghiệp có khả năng tiếp nhận nên được ưu tiên triển khai. Với các loài chưa xác định được thị trường hoặc chất lượng chưa ổn định, cần tiếp tục nghiên cứu trước khi mở rộng diện tích.

Chọn vùng ưu tiên, tháo gỡ điểm nghẽn trước năm 2030

Ngày 19/9/2026, UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu các sở, ngành và chính quyền địa phương đẩy mạnh phát triển vùng trồng dược liệu bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm và bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Theo thông tin về chỉ đạo của tỉnh, Sở Y tế chủ trì rà soát danh mục dược liệu có giá trị y tế và kinh tế cao, thống kê các cơ sở nuôi trồng, khai thác và chuẩn bị lộ trình đáp ứng GACP trước ngày 1/1/2030.

Việc đầu tiên là xây dựng dữ liệu đầy đủ về vùng dược liệu, gồm diện tích, loài cây, nguồn giống, chủ thể sản xuất, điều kiện đất và nước, phương thức canh tác, năng lực sơ chế, đầu ra và tình trạng đáp ứng tiêu chuẩn. Trên cơ sở đó, tỉnh phân loại vùng trồng theo mức độ sẵn sàng, xác định điều kiện còn thiếu và lựa chọn các cơ sở có khả năng triển khai trước.

Tiếp theo, cần ưu tiên một số cây trồng và vùng nguyên liệu có lợi thế rõ ràng. Những đối tượng có nguồn giống ổn định, điều kiện sinh thái phù hợp, nhu cầu tiêu thụ thực tế và doanh nghiệp tiếp nhận nên được lựa chọn trước. Việc triển khai tại các vùng thuận lợi sẽ giúp địa phương xác định nhu cầu đầu tư, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và rút kinh nghiệm trước khi mở rộng.

Các sở, ngành cần phối hợp theo mục tiêu cụ thể. Sở Y tế rà soát cơ sở và hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý. Sở Nông nghiệp và Môi trường đánh giá quỹ đất, điều kiện sản xuất, nguồn giống và bảo tồn nguồn gen. Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ nghiên cứu giống, hoàn thiện quy trình kỹ thuật. Các đơn vị phụ trách công thương và xúc tiến thương mại kết nối doanh nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu.

Đối với từng vùng được lựa chọn, tỉnh cần xác định tiến độ hoàn thiện điều kiện sản xuất, hướng dẫn hồ sơ, đánh giá mức độ đáp ứng và duy trì quy trình. Kết quả cần được đo bằng số cơ sở được đánh giá, khả năng khắc phục những điểm chưa phù hợp và mức độ ổn định của nguồn nguyên liệu, thay vì chỉ tính diện tích quy hoạch hoặc số hộ tham gia.

Đến năm 2030, hiệu quả của lộ trình không chỉ nằm ở số hecta dược liệu đạt chuẩn. Các vùng nguyên liệu cần có khả năng truy xuất nguồn gốc, cung ứng ổn định, đáp ứng yêu cầu của cơ sở tiếp nhận và duy trì hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.

Với lợi thế sinh thái đa dạng, Lâm Đồng có cơ sở phát triển nhiều nhóm dược liệu đặc trưng. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế thành năng lực cung ứng, địa phương cần lựa chọn đúng cây trồng, chuẩn hóa nguồn giống, tổ chức sản xuất và gắn vùng nguyên liệu với thị trường. GACP-WHO cung cấp khung thực hành kiểm soát chất lượng; quy hoạch, khoa học - công nghệ, cơ chế hỗ trợ và liên kết tiêu thụ sẽ quyết định khả năng thực hiện tiêu chuẩn trong thực tế.

Huu Nhat