Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 20/10: Cà phê bật tăng vì nỗi lo El Niño, lúa gạo và cao su phân hóa

HẢI ĐÔNG • 20/10/2026 09:51

Lo ngại hiện tượng El Niño gây hạn hán tại Brazil và Việt Nam đã đẩy giá cà phê quốc tế khởi sắc. Trong khi đó, tại thị trường trong nước, hồ tiêu tiếp tục đi ngang, còn lúa gạo, sầu riêng và cao su duy trì diễn biến phân hóa.

Cà phê thế giới bật tăng trước nỗi lo hạn hán từ El Niño

Thị trường nông sản ghi nhận giá cà phê đồng loạt phủ sắc xanh trên các sàn giao dịch quốc tế khi kết thúc phiên giao dịch hôm qua.

Cụ thể, trên sàn London, cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 2,05% (70 USD/tấn) lên mức 3.484 USD/tấn. Kỳ hạn tháng 1/2027 tăng 2,20% (75 USD/tấn), đạt 3.480 USD/tấn.

Còn trên sàn New York, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 3,3% (10,1 US cent/pound) lên mức đỉnh 6 tuần là 315,7 US cent/pound. Kỳ hạn tháng 3/2027 tăng 2,63% (7,75 US cent/pound), đạt 302,25 US cent/pound.

Theo BarChart, đà tăng này xuất phát từ lo ngại hiện tượng El Niño có thể gây thiệt hại cho vụ mùa năm tới tại Brazil và Việt Nam. Đặc biệt sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam cảnh báo khu vực Tây Nguyên có nguy cơ đối mặt với hạn hán vào cuối năm nay và đầu năm 2027.

Tại thị trường trong nước, kết thúc phiên giao dịch ngày 19/10, giá cà phê tại các vùng trồng trọng điểm ở Tây Nguyên đã có sự điều chỉnh tăng nhẹ 200 đồng/kg so với phiên trước. Hiện giá thu mua dao động từ 92.300 đến 93.200 đồng/kg.

Theo giacaphe.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện có mức thu mua cao nhất toàn khu vực với 93.200 đồng/kg. Hai địa phương là Đắk Lắk và Gia Lai cùng thu mua ở mức 93.000 đồng/kg. Còn tại khu vực Lâm Đồng cũ, giá thu mua ở mức 92.300 đồng/kg.

Ngoài ra, báo cáo mới nhất của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) cho thấy, xuất khẩu cà phê chế biến sâu niên vụ 2025–2026 đạt khoảng 142.600 tấn, với kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD. Tăng 15% về lượng và 14% về giá trị so với niên vụ 2024–2025.

Trong đó, Liên minh Châu Âu (EU) vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất khi chiếm trên 38% thị phần. Mỹ và Nhật Bản duy trì tỷ trọng ổn định từ 5% đến 7%. Còn thị trường Trung Quốc đang tăng trưởng nóng đối với cà phê hòa tan và nguyên liệu chế biến sâu từ Việt Nam.

Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá sầu riêng bật tăng tại một số vùng trồng.
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá sầu riêng bật tăng tại một số vùng trồng.

Hồ tiêu trong nước và thế giới đi ngang

Giá tiêu sáng nay tại các vùng sản xuất trọng điểm trong nước ổn định trong khoảng 137.500 đến 140.000 đồng/kg.

Cụ thể, theo giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) ghi nhận mức giá cao nhất cả nước với 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk đạt 139.000 đồng/kg. Khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) ở mức 138.000 đồng/kg. Hai địa phương là Gia Lai và Đồng Nai cùng giao dịch ở mức 137.500 đồng/kg.

Tương tự, trên bình diện quốc tế, sáng nay mặt bằng giá hồ tiêu tiếp tục ghi nhận đà đi ngang.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn. Loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn và tiêu trắng đạt 8.450 USD/tấn.

Tại các quốc gia khác, giá tiêu đen Indonesia giữ mức 6.769 USD/tấn. Malaysia đạt 9.100 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.800 USD/tấn.

Đối với tiêu trắng, hàng Muntok của Indonesia đứng ở mức 9.268 USD/tấn và tiêu trắng Malaysia đạt 12.000 USD/tấn.

Thị trường nông sản ghi nhận lúa gạo giao dịch chậm

Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, giá lúa gạo sáng nay tại ĐBSCL ít biến động.

Cụ thể, ở nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu, giống IR 504 giảm 50 đồng/kg xuống mức 8.750 đến 8.850 đồng/kg. Các chủng loại khác giữ giá ổn định gồm OM 5451 từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. CL 555 từ 8.800 đến 8.900 đồng/kg. OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng dao động từ 7.500 đến 7.600 đồng/kg.

Đối với lúa tươi, giống DS1 đạt từ 6.500 đến 6.600 đồng/kg. OM 18 từ 6.400 đến 6.600 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 6.300 đến 6.500 đồng/kg. OM 5451 từ 6.000 đến 6.200 đồng/kg. Còn OM 34 và IR 50404 cùng ở mức 5.800 đến 6.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo Việt Nam đi ngang với gạo Jasmine đạt 515 đến 519 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm từ 440 đến 445 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm từ 371 đến 375 USD/tấn.

Giá gạo trắng 5% tấm của các nước xuất khẩu lớn cũng đứng giá, tại Thái Lan đạt 455 đến 459 USD/tấn. Pakistan từ 409 đến 413 USD/tấn. Ấn Độ từ 382 đến 386 USD/tấn (gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ ở mức 381 đến 385 USD/tấn).

Sầu riêng bật tăng tại một số vùng trồng

Theo khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net, sáng nay giá sầu riêng tại ĐBSCL và Đắk Lắk có sự điều chỉnh tăng nhẹ.

Cụ thể, tại ĐBSCL, sầu riêng Thái loại A tăng lên mức 86.000 đến 88.000 đồng/kg, loại B từ 66.000 đến 68.000 đồng/kg. Giống sầu riêng Ri6 tại khu vực này cũng điều chỉnh tăng, hiện giá dao động từ 73.000 đến 80.000 đồng/kg đối với loại A, loại B đạt 63.000 đến 65.000 đồng/kg.

Tại Tây Nguyên, sầu riêng Thái loại A ở Đắk Lắk tăng lên ngưỡng 83.000 đến 95.000 đồng/kg, loại B từ 65.000 đến 67.000 đồng/kg. Đối với mặt hàng sầu riêng Ri6 tại đây, loại A đạt 35.000 đồng/kg và loại B ở mức 25.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, sầu Thái loại A đạt 88.000 đồng/kg, loại B ở mức 75.000 đồng/kg. Giống Ri6 tại đây, loại A giữ mức 35.000 đồng/kg và loại B là 20.000 đồng/kg.

Tại Lâm Đồng, sầu Thái loại A dao động từ 75.000 đến 80.000 đồng/kg, loại B từ 55.000 đến 60.000 đồng/kg. Các giống khác tại đây gồm Chuồng Bò loại A đạt 70.000 đồng/kg. Musang King loại A đạt 150.000 đồng/kg. Black Thorn dẫn đầu với loại A đạt 155.000 đồng/kg...

Cao su thế giới phân hóa, thị trường trong nước ổn định

Phiên giao dịch sáng nay cho thấy, thị trường cao su châu Á ghi nhận xu hướng giảm chiếm ưu thế do áp lực bán tại Trung Quốc và tâm lý thận trọng của nhà đầu tư.

Cụ thể, trên sàn Thượng Hải (SHFE), các kỳ hạn đều giảm. Như kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 0,47% xuống 19.105 CNY/tấn, tháng 1/2027 giảm 0,38% xuống 19.780 CNY/tấn.

Tại Nhật Bản và Singapore, giá cao su biến động đan xen.

Trên sàn TOCOM (Tokyo), cao su RSS3 kỳ hạn tháng 10/2026 và tháng 11/2026 đi ngang ở mức 470,00 JPY/kg và 448,00 JPY/kg.

Trên sàn SGX (Singapore), cao su TSR20 tăng nhẹ ở kỳ hạn tháng 11/2026 (tăng 0,04% lên 256,50 US cent/kg) và tháng 2/2027 (tăng 0,12% lên 251,00 US cent/kg). Tuy nhiên, cũng tại sàn giao dịch này lại có sự điều chỉnh giảm ở các kỳ hạn tháng 12/2026 (giảm 0,67% xuống 252,00 US cent/kg). Kỳ hạn tháng 1/2027 (giảm 0,36% xuống 250,60 US cent/kg).

Còn tại thị trường trong nước, sáng nay giá thu mua cao su vẫn duy trì đà đi ngang.

Cụ thể, Công ty Cao su Mang Yang niêm yết mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, loại 2 ở mức 458 đồng/TSC/kg.

Công ty Cao su Phú Riềng giữ giá mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp đạt 390 đồng/DRC/kg.

Còn tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá mủ nước đạt 452 đồng/độ TSC/kg (độ TSC từ 30 trở lên), 447 đồng/độ TSC/kg (độ TSC từ 25 đến dưới 30) và 442 đồng/độ TSC/kg (độ TSC từ 20 đến dưới 25).

HẢI ĐÔNG