Thị trường nông nghiệp
Thị trường nông sản 19/10: Cà phê giữ mốc 93.000 đồng/kg chờ sóng ngoại, giao dịch lúa gạo đầu tuần trầm lắng
Thị trường cà phê, hồ tiêu, lúa gạo và cao su trong nước đầu tuần tiếp tục giữ nhịp bình ổn để chờ đợi tín hiệu mới từ quốc tế.
Cà phê giữ mốc 93.000 đồng/kg
Thị trường nông sản sáng đầu tuần ghi nhận giá cà phê tại Tây Nguyên đi ngang trong khoảng 92.100 đến 93.000 đồng/kg.
Theo giacaphe.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) dẫn đầu khu vực với 93.000 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giữ mức 92.800 đồng/kg. Còn khu vực Lâm Đồng cũ đạt 92.100 đồng/kg.
Trên các sàn quốc tế, do kỳ nghỉ cuối tuần nên chưa có cập nhật mới.
Cụ thể, trên sàn London, Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tham chiếu ở mức 3.414 USD/tấn sau khi tăng 39 USD/tấn ở phiên trước. Kỳ hạn tháng 1/2027 ở mức 3.405 USD/tấn và tháng 3/2027 đạt 3.378 USD/tấn.
Còn trên sàn New York, Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 giữ mức 305,60 US cent/lb nhờ phiên tăng mạnh 10,80 cent. Hợp đồng tháng 3/2027 và tháng 5/2027 lần lượt ở mức 294,50 US cent/lb và 290,50 US cent/lb.
Hồ tiêu trong nước và thế giới đứng giá
Thị trường hồ tiêu nội địa trong nước sáng nay tiếp tục đi ngang trong khoảng 137.500 đến 140.000 đồng/kg.
Theo giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) duy trì mức thu mua cao nhất là 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk hiện được thu mua quanh mức 139.000 đồng/kg.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) ở mức 138.000 đồng/kg. Còn Gia Lai và Đồng Nai cùng đạt 137.500 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, thị trường hồ tiêu cũng chưa ghi nhận biến động mới.
Cụ thể, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn. Loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn và tiêu trắng giữ mức 8.450 USD/tấn.
Tại các nước sản xuất khác, tiêu đen Indonesia giao dịch ở mức 6.769 USD/tấn. Malaysia đạt 9.100 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.800 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, hàng Muntok của Indonesia đi ngang ở mức 9.268 USD/tấn và Malaysia giữ giá 12.000 USD/tấn.
Lúa gạo giao dịch chậm, giá xuất khẩu bình ổn
Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, sáng nay, thị trường lúa gạo tại ĐBSCL duy trì trạng thái ổn định.
Cụ thể, giá lúa tươi DS1 dao động từ 6.500 đến 6.600 đồng/kg, OM 18 từ 6.400 đến 6.600 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 6.300 đến 6.500 đồng/kg, OM 5451 ở mức 6.000 đến 6.100 đồng/kg. OM 34 và IR 50404 cùng giữ mức 5.800 đến 6.000 đồng/kg.
Ở nhóm gạo nguyên liệu, OM 5451 có giá từ 9.550 đến 9.650 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 9.150 đến 9.450 đồng/kg, IR 504 từ 8.800 đến 8.950 đồng/kg. CL 555 đạt 8.800 đến 8.900 đồng/kg và OM 18 ở mức 8.700 đến 8.850 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) ghi nhận giá gạo xuất khẩu đã trở lại trạng thái ổn định sau nhịp tăng 20 USD/tấn lên đỉnh hai tháng vào tuần trước, cho thấy nhu cầu nhập khẩu chưa phục hồi đồng đều.
Hiện gạo trắng 5% tấm của Việt Nam được chào bán từ 420 đến 424 USD/tấn (thấp hơn Thái Lan nhưng cao hơn Ấn Độ và Pakistan). Gạo thơm 5% tấm đạt 440 đến 445 USD/tấn và gạo Jasmine giữ mức cao từ 515 đến 519 USD/tấn.
Thị trường nông sản ghi nhận giá sầu riêng vẫn phân hóa mạnh theo chất lượng
Cập nhật từ giasaurieng.net và một số kho thu mua cho thấy, giá sầu riêng tại ĐBSCL sáng nay đồng loạt tăng nhẹ so với phiên giao dịch trước đó.
Giá sầu Thái tại đây hiện được thua mua quanh mức từ 80.000 đến 87.000 đồng/kg. Ri6 từ 70.000 đến 80.000 đồng/kg.
Cụ thể tại kho, sầu Thái loại A có giá từ 82.000 đến 87.000 đồng/kg, loại B từ 60.000 đến 67.000 đồng/kg. Sầu riêng Ri6 loại A đạt 70.000 đến 80.000 đồng/kg, loại B từ 60.000 đến 63.000 đồng/kg.
Tại Tây Nguyên, giá thu mua tiếp tục chênh lệch lớn tùy theo tiêu chuẩn tuyển chọn của từng kho.
Ở Đắk Lắk, sầu Thái loại A dao động từ 85.000 đến 90.000 đồng/kg, loại B từ 65.000 đến 70.000 đồng/kg. Ri6 loại A đạt 35.000 đồng/kg và loại B là 25.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, sầu Thái loại A giữ mức 88.000 đồng/kg, loại B đạt 75.000 đồng/kg. Ri6 loại A ở mức 35.000 đồng/kg và loại B là 20.000 đồng/kg.
Tại Lâm Đồng, sầu Thái loại A có giá từ 75.000 đến 83.000 đồng/kg, loại B từ 55.000 đến 63.000 đồng/kg. Riêng sầu riêng Black Thorn tại đây đang được thu mua ở mức 155.000 đồng/kg cho loại A. Musang King loại A và loại B tại đây cũng lần lượt thu mua ở mức 150.000 đồng/kg và 135.000 đồng/kg.
Cao su nội địa bình ổn, sàn quốc tế diễn biến trái chiều
Giá cao su trong nước sáng nay tiếp tục đi ngang tại các doanh nghiệp khảo sát.
Cụ thể, Công ty Cao su Bình Long giữ mức thu mua mủ nước tại nhà máy là 540 đồng/TSC/kg. Công ty Cao su MangYang niêm yết mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg. Còn Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Trên thị trường thế giới, giá cao su biến động trái chiều giữa các khu vực.
Tại Nhật Bản, sàn TOCOM ghi nhận cao su RSS3 kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 4,8 Yên/kg (tương đương 1,07%) xuống 448 Yên/kg.
Trên sàn SHFE (Thượng Hải, Trung Quốc), hợp đồng cao su tự nhiên tháng 11 và tháng 1/2027 cùng giảm 15 Nhân dân tệ/tấn (tương đương 0,08%), lần lượt lùi về mức 19.890 Nhân dân tệ/tấn và 19.880 Nhân dân tệ/tấn.
Ngược lại, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 tại Thái Lan (FOB Laem Chabang) tăng 0,08 Baht (tương đương 0,08%) lên 96,73 Baht/kg.
Còn trên sàn SGX (Singapore), cao su TSR20 kỳ hạn tháng 11 cũng tăng 0,47% lên 255,90 Cent/kg và kỳ hạn tháng 12 tăng 0,24% đạt 253,20 Cent/kg.

