Thị trường nông nghiệp
Thị trường nông sản 14/10: Gạo nhích giá, sầu riêng phân hóa theo vùng trồng
Trong phiên giao dịch sáng 14/10/2026, thị trường nông sản trong nước ghi nhận đà tăng nhẹ ở nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu và sự phân hóa rõ rệt của mặt hàng sầu riêng giữa các vùng trồng. Trong khi đó, giá cà phê, hồ tiêu và cao su nội địa duy trì trạng thái ổn định.
Giá cà phê trên hai sàn kỳ hạn quốc tế ngược chiều
Thị trường nông sản sáng 14/10, ghi nhận giá cà phê nhân xô tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng từ 92.500 đến 93.200 đồng/kg.
Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, tại các địa phương trọng điểm gồm khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), cùng 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai, thương lái đang thu mua ở mức giá là 93.200 đồng/kg.
Riêng tại khu vực tỉnh Lâm Đồng cũ, mặt bằng giá giao dịch ở mức thấp hơn, đạt 92.500 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, khép lại phiên giao dịch hôm qua, giá cà phê chứng kiến sự phân hóa trái chiều giữa hai sàn London và New York.
Cụ thể, trên sàn giao dịch London, giá cà phê trực tuyến robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 11/2026 quay đầu giảm 0,55%, tương đương mất 19 USD/tấn so với phiên giao dịch trước, lùi về mức 3.459 USD/tấn.
Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 1/2027 cũng giảm 0,58%, tương ứng giảm 20 USD/tấn, xuống mức 3.443 USD/tấn.
Ngược lại, trên sàn giao dịch New York, sắc xanh tiếp tục duy trì đối với mặt hàng cà phê arabica khi hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3/2027 tăng 0,71%, tương đương cộng thêm 2 US cent/pound, vươn lên mức 285,5 US cent/pound.
Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 5/2027 cũng ghi nhận mức tăng 0,7%, tương ứng tăng 1,95 US cent/pound, đạt 281,95 US cent/pound.

Hồ tiêu trong nước duy trì vùng giá tốt
Cập nhật tại giatieu.com cho thấy, tại thị trường nội địa sáng nay giá hồ tiêu đi ngang so với ngày hôm trước, hiện dao động từ 137.500 đến 140.000 đồng/kg.
Cụ thể, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu về giá thu mua với mức 140.000 đồng/kg, xếp ngay sau là Đắk Lắk ở mức 139.000 đồng/kg.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), giá tiêu được giao dịch ở mức 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, hai địa phương Gia Lai và Đồng Nai cùng neo ở ngưỡng 137.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ghi nhận sự điều chỉnh giảm tại một số quốc gia Đông Nam Á trong phiên giao dịch mới nhất.
Cụ thể, giá tiêu đen Indonesia giảm nhẹ 7 USD/tấn, tương ứng giảm 0,1%, xuống còn 6.827 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu của Malaysia giảm mạnh hơn với mức điều chỉnh 100 USD/tấn, tương đương giảm 1,1%, lùi về mốc 9.100 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil vẫn duy trì ổn định ở mức 5.800 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục đi ngang, với chủng loại 500 g/l giao dịch ở mức 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok của Indonesia giảm 10 USD/tấn, tương ứng mất 0,11%, xuống mức 9.347 USD/tấn.
Ngược lại, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam và Malaysia vẫn giữ nhịp ổn định hoàn toàn, lần lượt chào bán ở mức 8.450 USD/tấn và 12.100 USD/tấn.
Thị trường nông sản ghi nhận giá gạo nguyên liệu xuất khẩu nhích tăng
Khảo sát tại một số nguồn và luagaoviet.com sáng nay cho thấy, mặt bằng giá gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu tại khu vực ĐBSCL có sự điều chỉnh tăng nhẹ ở một số chủng loại.
Cụ thể, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 khi cộng thêm 100 đồng/kg, hiện giá thu mua dao động từ 8.700 đến 8.800 đồng/kg.
Cùng chiều đi lên, gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức từ 8.750 đến 8.800 đồng/kg.
Các chủng loại gạo nguyên liệu khác giữ giá ổn định. Giá gạoOM 5451 dao động từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 ở mức từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. OM 18 giữ mức từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm cùng dao động trong khoảng từ 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa tươi, hoạt động giao dịch tại các địa phương ở ĐBSCL nhìn chung khá trầm lắng.
Hiện giá lúa tươi DS1 giữ mức cao nhất từ 6.500 đến 6.600 đồng/kg. Hai giống lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động từ 6.200 đến 6.300 đồng/kg. Lúa tươi IR 50404 được thu mua trong khoảng từ 6.000 đến 6.200 đồng/kg. OM 5451 dao động từ 6.000 đến 6.100 đồng/kg. OM 34 ở mức từ 5.800 đến 5.900 đồng/kg.
Trên bình diện xuất khẩu, số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy giá gạo xuất khẩu của Việt Nam duy trì sự ổn định.
Gạo trắng 5% tấm hiện dao động từ 420 đến 424 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm đạt từ 440 đến 445 USD/tấn. Jasmine được chào bán ở mức từ 515 đến 519 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu gạo chủ chốt khác ở châu Á, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đang giao dịch trong khoảng từ 455 đến 459 USD/tấn.
Sản phẩm cùng phân khúc của Pakistan không có biến động mới, tiếp tục đứng ở mức từ 409 đến 413 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm dao động từ 382 đến 386 USD/tấn. Gạo 5% tấm tại quốc gia này cũng duy trì ổn định trong khoảng từ 381 đến 385 USD/tấn.
Sầu riêng phân hóa mạnh giữa miền Tây và Tây Nguyên
Thị trường sầu riêng sáng 14/10 tiếp tục chứng kiến sự phân hóa rõ nét giữa các vùng thu mua trọng điểm.
Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại Lâm Đồng, sầu Thái loại A hiện dao động từ 83.000 đến 85.000 đồng/kg và loại B ở mức từ 63.000 đến 70.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, mặt bằng giá sầu riêng Thái vẫn giữ ở ngưỡng cao nhất cả nước, trong đó loại A dao động từ 90.000 đến 95.000 đồng/kg, loại B từ 70.000 đến 76.000 đồng/kg.
Cũng tại địa phương này, giống sầu riêng Ri6 loại A hiện có giá 35.000 đồng/kg và loại B là 25.000 đồng/kg. Sầu riêng Musang King ghi nhận mức giá 56.000 đồng/kg đối với loại B.
Tại Gia Lai, sầu riêng Thái loại A được thương lái thu mua trong khoảng từ 80.000 đến 85.000 đồng/kg, loại B ở mức 72.000 đồng/kg. Đối với giống Ri6, giá thu mua loại A đạt 35.000 đồng/kg và loại B ở mức 20.000 đồng/kg.
Còn tại khu vực ĐSBCL, giá sầu riêng Thái giữ mặt bằng ổn định với loại A dao động từ 82.000 đến 83.000 đồng/kg, loại B ở mức 63.000 đồng/kg.
Với giống sầu riêng Ri6 tại khu vực này có giá thu mua tốt hơn hẳn khi loại A đạt từ 65.000 đến 71.000 đồng/kg, loại B từ 50.000 đến 56.000 đồng/kg. Ngoài ra, sầu riêng Chuồng Bò tại khu vực này đang được giao dịch ở mức 49.000 đồng/kg đối với loại A và 34.000 đồng/kg cho loại B.
Cao su trong nước vẫn duy trì sự ổn định về giá thu mua
Thị trường cao su nguyên liệu trong nước sáng nay vẫn duy trì trạng thái ổn định tại các doanh nghiệp lớn.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang, giá thu mua mủ nước loại 1 hiện ở mức 463 đồng/TSC/kg và loại 2 ở mức 458 đồng/TSC/kg.
Tại Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước được niêm yết ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp đạt 390 đồng/DRC/kg.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, biểu giá thu mua mủ nước được phân chia theo chất lượng độ TSC, trong đó mức 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên, mức 2 ở mức 447 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30...
Trên thị trường thế giới, diễn biến giá cao su giữa các sàn giao dịch lớn tại châu Á thể hiện sự khác biệt rõ rệt và chưa hình thành được đà tăng thống nhất.
Theo đó, tại Nhật Bản, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM tại Tokyo ghi nhận sắc xanh ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 10/2026 tăng 1,06% lên mức 451,80 JPY/kg. Kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 1,39% đạt 452,80 JPY/kg. Kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 1,01% lên 454,60 JPY/kg.
Tại Thượng Hải, giá cao su tự nhiên trên sàn giao dịch SHFE nghiêng hẳn về chiều giảm.
Ngoại trừ hợp đồng giao tháng 10/2026 giữ nguyên ở mức 19.800 CNY/tấn, các kỳ hạn còn lại trên sàn SHFE đồng loạt đi xuống.
Còn tại thị trường Singapore, giá cao su TSR20 trên sàn SGX giảm trên toàn bộ các kỳ hạn với biên độ lớn hơn sàn Thượng Hải.
Cụ thể, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 1,66% xuống mức 261,00 Cent/kg. Kỳ hạn tháng 12/2026 giảm 1,41% còn 259,00 Cent/kg. Kỳ hạn tháng 1/2027 giảm 1,42% về mức 257,50 Cent/kg.

