Chính sách

Chính sách

VASEP kiến nghị Bộ Tài chính tháo gỡ vướng mắc về thuế cho doanh nghiệp thủy sản

Đ.K • 05/10/2026 11:29

Theo VASEP, các doanh nghiệp thủy sản vẫn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt do cách hiểu và áp dụng chính sách chưa thống nhất giữa các địa phương, giữa các cơ quan hoặc giữa các thời kỳ.

8 nhóm vướng mắc lớn về thuế cho doanh nghiệp thủy sản được VASEP kiến nghị Bộ Tài Chính tháo gỡ. Ảnh: Đ.Thư
8 nhóm vướng mắc lớn của doanh nghiệp thủy sản với thuế được VASEP kiến nghị Bộ Tài Chính tháo gỡ. Ảnh: Đ.Thư

Cách tính thuế không đồng nhất

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa có công văn 152/CV-VASEP gửi Bộ Tài chính, đồng kính gửi Cục Thuế và Cục Hải quan kiến nghị các giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản.

Cụ thể, liên quan đến hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT). Theo VASEP trước đây, doanh nghiệp phản ánh có trường hợp hồ sơ hoàn thuế bị kéo dài do hệ thống cảnh báo rủi ro tại một số hóa đơn hoặc nhà cung cấp F2, F3, trong khi cả phần giao dịch không có dấu hiệu rủi ro cũng phải chờ xác minh.

Sau đó, Cục Thuế có Công văn 6936 làm rõ một nguyên tắc quan trọng: cảnh báo rủi ro là căn cứ để phân loại, xác minh, không tự động đồng nghĩa với giao dịch không có thật. Nếu chỉ một phần số tiền đề nghị hoàn có rủi ro thì cần khoanh đúng phần đó để kiểm tra, phần còn lại đủ điều kiện phải tiếp tục được giải quyết.

Do đó, VASEP đề nghị áp dụng thống nhất nguyên tắc quản lý rủi ro theo Công văn 6936/CT-QLTT: Chỉ khoanh phần hóa đơn, giao dịch có dấu hiệu rủi ro để kiểm tra, không để toàn bộ hồ sơ phải chờ xác minh; đồng thời xử lý dứt điểm hồ sơ tồn đọng và làm rõ quyền hoàn thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu sau đó đưa vào sản xuất, xuất khẩu.

VASEP cũng phản ánh cùng một sản phẩm thủy sản nhưng các địa phương đang áp dụng GTGT khác nhau về đối tượng không chịu thuế, không phải kê khai hoặc thuế suất. Chẳng hạn, cùng sản phẩm như tôm, cá, mực, nghêu đông lạnh nhưng tại các địa phương có thể được hướng dẫn áp dụng chính sách GTGT khác nhau, phụ thuộc vào nguồn hàng tự nuôi hay mua ngoài, mức độ sơ chế hoặc chế biến, chủ thể bán và khâu lưu thông.

Có nơi xác định hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế; nơi khác xác định không phải kê khai, tính nộp thuế; trong khi một số trường hợp lại áp dụng thuế suất 8% hoặc 10%. Thậm chí, cơ quan thuế quản lý bên bán chấp nhận hóa đơn có thuế và bên bán đã kê khai, nộp thuế, nhưng cơ quan thuế quản lý bên mua lại không chấp nhận khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào.

Theo phản ánh được VASEP tổng hợp, biên lợi nhuận của nhiều đơn hàng thủy sản chỉ khoảng 3%-5%. Nếu doanh nghiệp phải tự gánh thêm khoản thuế GTGT 8% hoặc 10% không được khấu trừ, hoàn thuế, hiệu quả giao dịch có thể bị ảnh hưởng đáng kể.

VASEP kiến nghị ban hành hướng dẫn thống nhất trên toàn quốc, đồng thời xây dựng bảng tra cứu theo nhóm sản phẩm và quy trình sản xuất, với ví dụ cụ thể cho tôm, cá, mực, nghêu ở dạng tươi sống, đông lạnh, hấp, luộc và các công đoạn sơ chế phổ biến.

Hiệp hội cũng kiến nghị cần phân định rõ “sơ chế” và “chế biến” khi áp dụng GTGT và thu nhập doanh nghiệp (TNDN).

Theo VASEP, một quy trình gồm làm sạch, bỏ đầu, lấy ruột, bóc vỏ, cắt, fillet, cấp đông, mạ băng, đóng gói có thể được xem là “sơ chế thông thường” khi áp dụng thuế GTGT nhưng lại được xác định là “chế biến” khi xem xét ngành nghề, hoạt động và ưu đãi thuế TNDN.

Quyết định 36/2025/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam xác định ngành 1020 là “Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản”, bao gồm nhiều hoạt động như làm lạnh, sấy khô, hun khói, ướp muối, đóng gói; trong đó nêu cả hoạt động bỏ đầu cá, lấy ruột, cắt thành miếng rồi đông lạnh. Tuy nhiên, VASEP cũng lưu ý Quyết định 36 là văn bản phân ngành kinh tế, không phải văn bản trực tiếp quy định đối tượng chịu thuế, không chịu thuế hoặc điều kiện ưu đãi thuế.

Do đó, Hiệp hội đề nghị tách rõ hai tầng: xác định bản chất hoạt động/ngành nghề theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và xác định chế độ thuế theo tiêu chí riêng của pháp luật về GTGT, TNDN. Việc một sản phẩm được xác định là sơ chế hay đã qua chế biến cho mục đích GTGT không nên mặc nhiên quyết định toàn bộ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp là sơ chế hay chế biến cho mục đích TNDN.

Những quy định thuế cần được làm rõ

VASEP cũng kiến nghị làm rõ thuế TNDN với gia công và phụ phẩm thủy sản. Theo cơ quan này, các doanh nghiệp cũng gặp vướng mắc khi hoạt động nhận nguyên liệu của bên đặt gia công, trực tiếp fillet, cắt, cấp đông rồi giao thành phẩm có thời kỳ được xác định là chế biến thủy sản nhưng kỳ kiểm tra khác lại được đánh giá khác do doanh nghiệp không sở hữu nguyên liệu.

Với bột cá, mỡ cá và sản phẩm từ phụ phẩm, việc phân loại giữa các nhóm ngành 1020, 10401, 1080 cũng chưa thống nhất. VASEP đề nghị có tiêu chí rõ ràng theo bản chất sản phẩm và quy trình thực tế; việc không sở hữu nguyên liệu không nên là căn cứ duy nhất để loại một hoạt động khỏi hoạt động chế biến.

Hiệp hội đồng thời đề nghị hướng dẫn phù hợp về cách xác định tỷ lệ giá trị nguyên liệu nông, thủy sản trong chi phí sản xuất để hưởng ưu đãi TNDN, do một nguyên liệu và một quy trình có thể đồng thời tạo ra sản phẩm chính và phụ phẩm.

Về tỷ giá hóa đơn điện tử với dữ liệu hải quan, kế toán, VASEP cho rằng, ngành Thuế cần đồng nhất. Hiệp hội kiến nghị không yêu cầu doanh nghiệp sử dụng một tỷ giá duy nhất cho mọi chứng từ khi pháp luật về hóa đơn, kế toán, thuế và hải quan có mục đích hoặc thời điểm xác định khác nhau. Chênh lệch quy đổi VND giữa hóa đơn và tờ khai hải quan cũng không nên tự thân bị coi là sai hóa đơn, sai doanh thu hoặc căn cứ bác hoàn thuế nếu doanh nghiệp đã xác định tỷ giá đúng quy định.

VASEP đề xuất xây dựng nguyên tắc đối chiếu thống nhất giữa hóa đơn điện tử - tờ khai hải quan - sổ kế toán, đồng thời tăng liên thông dữ liệu Thuế - Hải quan để giảm việc nhập lại thông tin và hạn chế cảnh báo sai lệch kỹ thuật.

Với hàng xuất khẩu bị trả về, Hiệp hội kiến nghị tránh “nộp trước - hoàn sau”. Theo lý giải của VASEP, hàng xuất khẩu bị trả về để sửa chữa, tái chế rồi tái xuất, doanh nghiệp hiện phải nộp thuế GTGT khi tái nhập rồi thực hiện thủ tục hoàn. Hiệp hội đề nghị trường hợp hàng chỉ tái nhập để sửa chữa/tái chế và sau đó tái xuất, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật, cần xem xét xử lý theo diện không chịu thuế GTGT thay vì cơ chế “nộp trước - hoàn sau”.

Cùng với đó, cần thống nhất mã loại hình, bộ hồ sơ, cách xử lý khi tái xuất cho khách hàng ban đầu hoặc sang nước/chủ thể thứ ba và cách điều chỉnh doanh thu, thuế GTGT đầu vào đã hoàn.

Một vấn đề khác liên quan trực tiếp đến ngành chế biến thủy sản thâm dụng lao động là khoản tiền lương tháng cuối được trả sau thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

VASEP kiến nghị tiền lương thực tế phát sinh trong thời gian hợp đồng lao động trên 3 tháng còn hiệu lực, dù được thanh toán sau ngày chấm dứt hợp đồng theo kỳ lương đã thỏa thuận, cần được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần, thay vì áp dụng mức 10% chỉ vì thời điểm trả tiền sau ngày nghỉ việc. Đồng thời, cần phân biệt rõ tiền lương theo hợp đồng, khoản chi sau khi kết thúc hợp đồng, lao động thời vụ và các khoản trợ cấp, thu nhập khác.

VASEP cũng kiến nghị cần cơ chế thực thi thống nhất và kế thừa kết quả kiểm tra. Cơ quan này cho rằng, nhiều vướng mắc hiện nay không chỉ nằm ở quy định mà còn xuất phát từ cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, các thời kỳ và các cơ quan. Có trường hợp kỳ thuế đã được kiểm tra nhưng doanh nghiệp tiếp tục phải giải trình lại; văn bản trả lời trước đây chưa được kế thừa hoặc hướng dẫn mới chưa làm rõ cách xử lý đối với giao dịch đã phát sinh.

VASEP đề nghị thiết lập cơ chế kế thừa kết quả thanh tra, kiểm tra, không kiểm tra lặp lại cùng nội dung, thời kỳ và hồ sơ nếu không có chứng cứ mới; đồng thời quy định rõ thời điểm áp dụng và cơ chế chuyển tiếp khi thay đổi hướng dẫn.

Đối với những vấn đề đồng thời liên quan đến Thuế - Hải quan - chuyên ngành thủy sản, Hiệp hội kiến nghị có hướng dẫn liên ngành và xây dựng bộ tình huống chuẩn áp dụng trên toàn quốc đối với các vấn đề thường gặp như hoàn thuế GTGT, sơ chế/chế biến, gia công, phụ phẩm, tỷ giá và hóa đơn xuất khẩu, hàng trả về, chênh lệch khối lượng.

VASEP cho rằng việc có hướng dẫn thống nhất sẽ giúp doanh nghiệp thủy sản có cơ sở thực hiện, giảm rủi ro phát sinh do khác biệt trong cách hiểu chính sách, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam.

Đ.K