Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 5/10: Cà phê đi ngang chờ sóng mới, hồ tiêu neo giữ vùng giá tốt

HẢI ĐÔNG • 05/10/2026 08:48

Bức tranh thị trường nông sản sáng 5/10/2026 ghi nhận cà phê và hồ tiêu nội địa bước vào tuần mới trong trạng thái tĩnh lặng, chờ đợi các xung lực mới từ thị trường toàn cầu.

Cà phê đi ngang chờ tín hiệu mới từ sàn quốc tế

Thị trường nông sản sáng nay chứng kiến giá cà phê nội địa đang trong trạng thái bình ổn sau nhịp phục hồi nhẹ cuối tuần trước.

Theo giacaphe.com, hiện các vùng thu mua trọng điểm tại Tây Nguyên tiếp tục giữ nguyên mặt bằng giá, phổ biến từ 93.499 đến 94.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Lắk, Gia Lai và khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện cùng được thu mua ở mức 94.000 đồng/kg.

Riêng khu vực Lâm Đồng cũ tiếp tục là khu vực có mức giá thấp nhất toàn vùng khi giao dịch ở 93.499 đồng/kg.

Thị trường nông sản sáng 05/10/2026 ghi nhận giá cà phê nội địa giữ trạng thái bình ổn. Nguồn: giacaphe.com
Thị trường nông sản sáng 05/10/2026 ghi nhận giá cà phê nội địa giữ trạng thái bình ổn. Nguồn: giacaphe.com

Còn trên các sàn giao dịch quốc tế, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần qua, cả hai sàn London và New York đều phủ sắc xanh.

Cụ thể, giá cà phê robusta hợp đồng giao tháng 11/2026 trên sàn London đã tăng 0,61%, tương đương 21 USD/tấn, vươn lên mức 3.469 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 cũng tăng 1,32%, đạt 3.448 USD/tấn.

Trên sàn New York, arabica giao tháng 3/2027 ghi nhận mức tăng 0,32 phần trăm lên 280,5 US cent/pound. Trong khi đó kỳ hạn tháng 5/2027 đạt 277,8 US cent/pound sau khi điều chỉnh tăng 0,51%.

Thị trường nông sản ghi nhận hồ tiêu duy trì nền giá tốt

Đối với mặt hàng hồ tiêu, giá thu mua tại các địa phương sản xuất trọng điểm tiếp tục đi ngang trong buổi sáng nay. Hiện mức giá thu mua dao động ổn định từ 136.500 đến 140.500 đồng/kg.

Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện vẫn là nơi thiết lập mức giá cao nhất cả nước đạt 140.500 đồng/kg.

Xếp ngay sau là Đắk Lắk với 138.500 đồng/kg và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) chốt ở mức 137.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng giao dịch tại mốc 136.500 đồng/kg.

thi-truong-nong-san-ngay-05102026-1.png
Bảng giá hồ tiêu. Nguồn: giatieu.com

Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu từ các quốc gia xuất khẩu chủ chốt không có sự xáo trộn.

Tiêu đen Indonesia đang được chào bán ở mức 6.828 USD/tấn. Tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 5.800 USD/tấn. Trong khi đó, Malaysia duy trì mức 9.200 USD/tấn.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam cũng giữ thế ổn định với loại 500 g/l đạt 5.970 USD/tấn và loại 550 g/l ở mức 6.075 USD/tấn.

Đối với phân khúc tiêu trắng, sản phẩm Muntok của Indonesia có giá 9.348 USD/tấn. Tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam và Malaysia neo lần lượt ở mức 8.450 USD/tấn và 12.100 USD/tấn.

Lúa gạo vẫn giao dịch trầm lắng

Thị trường lúa gạo mở cửa ngày mới với không khí giao dịch khá ảm đạm.

Phần lớn các mặt hàng được dự báo giữ nguyên giá trị trong bối cảnh sức mua tại nhiều địa phương chưa có sự cải thiện rõ rệt.

Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, giá lúa OM 18 và OM 5451 tiếp tục dao động từ 6.000 đến 6.100 đồng/kg. Giống IR 50404 giữ mức 5.900 đến 6.000 đồng/kg. Lúa OM 34 nằm trong khoảng 5.700 đến 5.900 đồng/kg và Đài Thơm 8 duy trì từ 6.100 đến 6.200 đồng/kg.

Phân khúc gạo nguyên liệu diễn biến đồng pha, với gạo OM 5451 có giá cao nhất khoảng 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. Các dòng OM 380 và Sóc thơm ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg...

Trên bình diện quốc tế, giá gạo xuất khẩu Việt Nam duy trì đà đi ngang so với cuối tuần trước.

Cụ thể, gạo thơm 100% tấm dao động từ 371 đến 375 USD/tấn, gạo Jasmine chào bán 515 đến 519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm từ 440 đến 445 USD/tấn.

Mức giá này đang chịu sự bám đuổi sát sao từ Thái Lan với gạo 5% tấm đạt 455 đến 459 USD/tấn và Ấn Độ với 382 đến 386 USD/tấn.

Ngoài ra, bức tranh xuất khẩu gạo đang cho thấy những dấu hiệu chững lại.

Thống kê từ Tổng Cục Hải Quan Việt Nam cho thấy, tính chung 9 tháng đầu năm 2026, lượng gạo xuất khẩu đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỉ USD, giảm 6,1% về khối lượng và giảm 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Giá xuất khẩu bình quân cũng lùi 5,1% xuống còn 484,8 USD/tấn. Mặc dù vậy, châu Á tiếp tục là điểm tựa vững chắc với thị trường Philippines dẫn đầu chiếm 40,9% thị phần, tiếp sau là Trung Quốc và Ghana.

Sầu riêng phân hóa sâu sắc, Đắk Lắk lập đỉnh giá

Theo khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net, sáng nay thị trường sầu riêng vẫn có sự phân hóa mạnh về giá và chất lượng cơm.

Cụ thể, Đắk Lắk tiếp tục giữ vị thế thủ phủ có giá thu mua cao nhất cả nước. Sầu riêng Thái loại A cơm chuẩn tại đây được các vựa săn lùng với giá từ 90.000 đến 95.000 đồng/kg, hàng loại B đạt 70.000 đến 75.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, sầu Thái loại A cơm chuẩn cũng vươn lên ngưỡng 90.000 đến 95.000 đồng/kg.

Trong khi đó, sầu Thái loại A tại Lâm Đồng chỉ đạt 80.000 đến 87.000 đồng/kg và ĐBSCL giá thu mua chỉ quanh mức 78.000 đồng/kg.

Đối với giống Ri6, khoảng cách vùng miền càng bộc lộ rõ rệt. ĐSBCL thu mua Ri6 loại A từ 60.000 đến 64.000 đồng/kg, cao vượt trội so với mức 35.000 đồng/kg tại Đắk Lắk và Gia Lai.

Cao su trong nước bình ổn, quốc tế biến động đan xen

Thị trường cao su thế giới trong phiên giao dịch đầu tuần ghi nhận sự giằng co đan xen.

Cụ thể, trên sàn TOCOM Nhật Bản, giá cao su RSS3 đồng loạt giảm ở các kỳ hạn.

Hợp đồng tháng 10 lùi 3,1 Yên xuống mức 441 Yên/kg, kỳ hạn tháng 11 lùi 2,5 Yên về 444 Yên/kg.

Tuy nhiên, tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 lại nhích nhẹ 0,2 Baht lên 95,16 Baht/kg.

Sàn SGX Singapore cũng chứng kiến sự phục hồi khi hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 12 và tháng 1/2027 đều tăng xấp xỉ 1,7%, lên quanh vùng 255,5 đến 256,5 cent/kg.

Riêng Sàn Thượng Hải hiện đang đóng cửa nghỉ lễ Quốc khánh và dự kiến giao dịch trở lại vào ngày 8/10.

Bất chấp những rung lắc từ thị trường quốc tế, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn trong nước vẫn kiên định với nhịp bình ổn.

Công ty Bình Long chốt giá mủ nước tại nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg. Công ty MangYang thu mua mủ nước dao động từ 458 đến 463 đồng/TSC tùy chất lượng.

Công ty Phú Riềng và Cao su Bà Rịa cùng duy trì mức giá mủ nước 420 đồng/độ TSC/kg.

Sự bình ổn này được xem là bước đi thận trọng của các doanh nghiệp trong bối cảnh Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên dự báo sản lượng toàn cầu năm 2026 sẽ đạt 15,039 triệu tấn. Mức dự báo này thấp hơn mức tiêu thụ dự kiến 15,356 triệu tấn, hứa hẹn tạo ra lực đỡ trung hạn cho ngành cao su toàn cầu.

HẢI ĐÔNG