Nông thôn mới

Lặng nghe phận nón

PHI NGUYỄN 17/11/2024 07:09

Trưa ấy, anh đội thúng về. Trên thúng, chiếc nón màu trắng tinh khôi như có quầng nắng nhảy theo chân anh. Tôi cầm lấy nón chạy ù khoe: “Má ơi anh Tư mua cho má nè”. Má cầm chiếc nón, mắt rưng rức đỏ.

Trăm năm mũi chỉ đường kim

Tôi còn giữ mãi ký ức ấu thơ của hơn 20 năm trước, vào một buổi sáng nọ, anh trai tôi chặt buồng chuối hương sau vườn, cẩn thận cắt ra từng nải, chọn những nải to nhất đặt vào chiếc thúng. Anh đội thúng chuối hương ấy trên đầu, đi bộ hơn ba cây số đến chợ. Anh nói, mua nón cho má, vì nón của má hư hai tuần nay rồi mà má cứ chần chừ chưa mua lại. Trưa ấy, anh đội thúng về. Trên thúng, chiếc nón màu trắng tinh khôi như có quầng nắng nhảy theo chân anh. Tôi cầm lấy nón chạy ù khoe: “Má ơi anh Tư mua cho má nè”. Má cầm chiếc nón, mắt rưng rức đỏ. Niềm hạnh phúc đến từ con cái lúc nào cũng đầy ngọt ngào…

Cũng từ ấy, chiếc nón lá trở nên ấn tượng hơn trong tôi. Tuổi thơ non dại, đi đâu cũng thấy nón như thấy hoa lá ngoài đồng, quen quá nên không đọng đáy não để suy cảm điều gì đó. Sau này khi tôi lớn lên, mới biết rằng có một làng nón nức danh hơn trăm năm nay nằm ngay trên quê hương An Nhơn của mình, ấy là làng nón Gò Găng, ở Nhơn Thành.

Về Nhơn Thành, ta dễ bắt gặp hình ảnh các dì, các mẹ ngồi tỉ mẩn từng đường kim mũi chỉ chằm nón. Ảnh: Phi Nguyễn

Gọi là nón Gò Găng, nhưng thực chất là nón được làm từ nhiều vùng như Tân Đức, Tân Nghi, Vĩnh Phú, Châu Thành, Phú Thành, Kiều An… của phường Nhơn Thành. Người bán buôn nón đã thành phẩm hay nguyên liệu làm nón đều tập kết tại chợ nón Gò Găng. Có lần tôi được nghe bà Hai (tên thật là Lâm Thị Thanh, ở khu vực Châu Thành) kể, rằng từ lúc ba tuổi, bà Hai đã theo mẹ từ Nhơn Phong, Tây Sơn về làm dâu đất Nhơn Thành rồi gắn bó luôn với nghề. Trước đây không có cước chỉ mua dễ dàng như giờ đâu, mà phải lặn lội vào rừng tìm loại cây tàu thơm, đập giã, nạo hết lớp vỏ, lấy những sợi gân của tàu thơm xe lại mới thành chỉ để chằm nón.

Hoàn thành một chiếc nón công phu lắm. Vót nan, vót vành, dấn sườn, xòe lá… rồi tỉ mẩn chằm từng đường kim mũi chỉ. Hết thảy các khâu làm nón đều hoàn toàn thủ công. Bà quả quyết với tôi rằng, khó có loại máy móc nào có thể thay thế con người làm nón lá được. Làm nón không bưng bê gánh quảy nặng nhọc nhưng dày công, đường kim mũi chỉ của người thợ liên hoàn như một chiếc máy may, chỉ cần sơ ý là bị kim đâm chảy máu.

Người làm nón giỏi thì một ngày làm được năm, bảy chiếc. Mỗi chiếc khoảng 20.000 đồng. Tôi đã tận mắt thấy một trong những công đoạn cực và khó nhất của nghề làm nón là kéo lá. Lá ở đây là loại lá mật cật hay còn gọi lá trắng được mua từ Vĩnh Thạnh, An Lão và cả trên Tây Nguyên… Sau khi mang về phải trộn trong cát để lá xoăn lại, sau đó ủ lớp sương mỏng buổi sớm, rồi dùng chiếc mền to thấm nước phủ lại. Tiếp theo, người thợ làm nón nhóm lò than lên, đặt một miếng gang lớn lên lò lửa. Dùng một bọc vải lớn chứa cát bên trong, một tay xòe lá trắng trên miếng gang rồi vuốt nhẹ để ủi cho lá trắng thẳng, láng, đều, là đạt.

Tròng trành như nón không quai

Cách đây hơn mười năm trước, tôi cùng một người bạn rủ nhau đi chợ nón Gò Găng. Những chồng nón cao trên đầu những chị, những mẹ di chuyển trong đêm, dưới ánh sáng huyền ảo của những ngọn đèn dầu hột vịt, ánh sáng ấy như loang ra, những chồng nón nhìn từ xa như đốm lửa cánh bay từ từ trên không gian mập mờ tối nhiều sáng ít. Ngay đầu chợ, những người bán buôn nón xếp thành hai hàng thẳng thớm, bày biện nón và nguyên liệu làm nón. Cảnh bán mua diễn ra hết sức nhẹ nhàng. Vì, hầu như kẻ bán người mua đều đã tường tỏ quen thân, chỉ cần nghe tiếng đã biết người hỏi mua là ai.

Bên cạnh chiếc đèn hột vịt, họ vừa thỏ thẻ thương lượng với nhau (giá đôi khi chỉ chênh đôi ba ngàn) vừa thân thiết hỏi han nhau chuyện đồng áng, chia sẻ nhau chuyện con cái, gia đình. Kết thúc cuộc bán mua, nụ cười rạng rỡ hài lòng của cả kẻ bán người mua như lời giã bạn một cuộc vui, hẹn có ngày trở lại.

Nhà cách chợ 15km, ba giờ sáng, tôi chạy xe ra chợ như sợ bỏ lỡ một phiên giao dịch mua bán nào đó. Đến nơi thì đã có sẵn ba bốn người ngồi. Họ lặng thinh như pho tượng. Không gian chợ vắng lặng. Tôi nhìn quanh, đèn dầu hột vịt ngày xưa đã được thay bằng đèn pin với ánh sáng mãnh liệt hơn. Tầm bốn giờ, nhiều người lục tục kéo đến, nâng quân số chợ nón hơn chục người. Họ bán nguyên liệu làm nón như cây lồ ô, giang, lá mật cật, chỉ cước…

Cuộc trao đổi mua bán rất khẽ khàng, không có giành giật, xô bồ. Chợ đã thưa vắng hơn xưa, cũng chẳng còn bày bán nón thành phẩm nữa. Hỏi ra, tôi mới hay những cuộc bán mua nón thành phẩm đã được thực hiện trong những “chợ nón di động” theo chân các thương lái đến tận nhà lấy hàng, và cả những chợ nón online thời 4.0. Tôi đứng ngẩn ngơ. Chỉ có ký ức là còn, khi mọi thứ qua đi và hơn nhau một chữ “nhớ”. Đành thôi.

Các công đoạn làm nón ở Gò Găng hầu hết đều được thực hiện thủ công. Ảnh: Phi Nguyễn

Phận nón, phận người, bao năm qua đi với bao sao dời vật đổi nhưng nhiều nông dân vẫn thầm lặng thủy chung với nghề. Lòng tôi như thắt lại khi nghe đến câu lục bát mà một nữ nghệ nhân vu vơ như cám cảnh phận mình: “Tròng trành như nón không quai/ Như thuyền không lái như ai không chồng”. Hiện phường Nhơn Thành có khoảng hơn 150 hộ làm nón.

Chợ nón còn lại như một dấu tích đã hao khuyết theo thời gian. Nhưng hình ảnh chiếc nón đã có một đời sống trong tâm khảm nhiều người, như tôi đã từng nghe đâu đó trong thơ của nhà thơ Mai Thìn nhắc gợi về chợ nón quê anh, cho trăm năm chợ nón: “Bồng bềnh sương sớm nón Gò Găng em đi/ đội trên đầu lăn li vân lá/ vàng cây rạ đỏ phên tre/ đội trên đầu chồng chồng nón trắng/ Chợ Gò Găng phiên sớm lăn tăn bán mua/ thì thầm ngọn đèn dầu kẽo kẹt/ không leo lét, không ồn ào/ vần vũ đổi ngôi sao vẫn nhóm”...

PHI NGUYỄN