Kinh tế xanh
Vỏ cà phê thành "vàng đen"
Trước đây, sau mỗi vụ thu hoạch, vỏ cà phê, cành cây cắt tỉa... chất đống thành rác. Hiện nay, những phụ phẩm này có những vòng đời mới, hữu ích hơn.
Vỏ hạt cà phê thành nhiêu liệu của một chu trình trong các lò đốt. Nhiệt lượng do chúng tạo ra giúp làm khô chính những hạt cà phê hay một số loại nông sản khác, công đoạn mà trước đây người trồng chỉ phơi dưới nắng.
Sau quá trình nhiệt hóa, vỏ cà phê thành những hạt biochar - loại than sinh học được sử dụng như một loại phân bón giúp cải tạo cho đất. Nếu không đốt, loại vỏ này cũng có thể chất đống ủ bằng men vi sinh, qua thời gian trở thành phân hữu cơ rồi lại theo người nông dân trở về vườn.

Vòng tuần hoàn từ phụ phẩm cà phê
Mỗi mùa cà phê ở Khe Sanh, Quảng Trị, sau khi những trái tươi vào xưởng, trên sân phơi, bên máy chế biến... còn lại vỏ cà phê; dưới những tán cây, những cành khô sau mỗi lần cắt tỉa nằm thành từng đống.
Trước đây, thứ rác nông sản ấy chỉ là thứ bỏ đi. Nay, chúng được gom lại, đưa vào lò khí hóa, biến thành nguồn nhiệt để sấy cà phê; phần carbon còn lại được giữ thành biochar để trả về cho đất. Ở một số cơ sở, vỏ và cành cây được lên men, ủ thành phân hữu cơ rồi lại trở về vườn làm giàu cho đất, nuôi dưỡng cây trồng. Vỏ, cành, lá... cà phê đang trở thành thứ sinh khối hữu ích.

Tại Hợp tác xã (HTX) Nông sản Khe Sanh, câu chuyện tận dụng phụ phẩm từ cây cà phê giúp tiết kiệm khoản chi phí không nhỏ.
Bà Nguyễn Thị Hằng, Giám đốc HTX Nông sản Khe Sanh, cho biết: HTX đang quản lý khoảng 300 ha vùng nguyên liệu, với 30 thành viên chính thức và 115 thành viên liên kết, phần lớn là đồng bào Bru - Vân Kiều. Mỗi năm, HTX thu mua khoảng 3.000 - 3.500 tấn quả cà phê tươi.
Đến vụ thu hoạch, có ngày, HTX phải sấy 30 - 80 tấn cà phê. Trước đây, chất đốt chủ yếu lấy từ củi và than đá, mỗi mẻ sấy tiêu tốn khoảng 4 - 5 triệu đồng. Trong khi đó, hàng chục, hàng trăm tấn vỏ cà phê và cành cây khô đổ bỏ. Bài toán vì thế được đặt ngược lại: nếu không coi chúng là rác, chúng có thể trở thành gì?
Cùng với Liên minh HTX tỉnh và đơn vị tư vấn công nghệ INTRACO, HTX Nông sản Khe Sanh thu gom vỏ cà phê, cành cây khô rồi tiến hành xử lý, điều chỉnh độ ẩm trước khi đưa vào hệ thống khí hóa sinh khối. Thay vì đốt trực tiếp, sinh khối được chuyển hóa để tạo ra nguồn nhiệt phục vụ sấy nông sản.
Nguồn nhiệt được truyền gián tiếp vào buồng sấy, hạn chế khói, bụi tiếp xúc với cà phê.

Nhưng điều khiến người trồng bất ngờ là ở phần còn lại sau quá trình nhiệt hóa. Sinh khối không bị đốt sạch thành tro. Một phần carbon rắn được giữ lại dưới dạng biochar - than sinh học.
Nhìn bằng mắt thường, đó chỉ là những mảnh than đen. Nhưng với đất, chúng có một vai trò khác. Biochar không phải phân bón theo nghĩa thông thường mà là vật liệu có cấu trúc xốp, có khả năng hỗ trợ đất giữ nước, giữ dinh dưỡng và cải thiện một số đặc tính của đất.
HTX đang thử nghiệm ba công thức sử dụng biochar cho cà phê, cây ăn quả và rau màu. Như vậy, từ thứ từng phải tìm chỗ bỏ đi bắt đầu có một chỗ đứng khác trong chính chuỗi sản xuất.
Khi phụ phẩm quay trở lại vườn
Cũng ở Khe Sanh, cách làm của Công ty TNHH Cà phê Tà Cơn Khe Sanh lại đơn giản hơn.
Doanh nghiệp này phát triển cà phê Arabica theo phân khúc đặc sản, hiện liên kết với hơn 100 hộ dân, vùng nguyên liệu hơn 200 ha và sản lượng cung cấp hơn 120 tấn cà phê mỗi năm.
Sau mỗi vụ thu hoạch, vỏ cà phê được thu gom. Cành cây sau cắt tỉa cũng không bị bỏ lại. Chúng được xử lý bằng chế phẩm vi sinh, lên men rồi tiếp tục ủ trong thời gian dài để tạo thành phân hữu cơ.

Không có lò khí hóa, không có những thiết bị phức tạp. Chỉ là một quá trình mà ở đó phụ phẩm được ủ men vi sinh, theo thời gian vi sinh sẽ phân hủy, chuyển hóa thành nguồn dinh dưỡng cho cây.
Theo bà Nông Thị Hạnh, Giám đốc Công ty TNHH Cà phê Tà Cơn Khe Sanh, khi phụ phẩm được đưa trở lại chu trình sản xuất, thứ từng bị xem là bỏ đi lại có thể tạo thêm giá trị, vừa giúp tiết giảm chi phí, vừa góp phần giảm chất thải và bảo vệ môi trường.
Một vụ cà phê, nhiều tầng giá trị
Ở HTX Nông sản Khe Sanh và Công ty TNHH Cà phê Tà Cơn Khe Sanh là hai cách làm nhưng điểm chung là không để giá trị của cây cà phê chỉ phụ thuộc vào hạt cà phê.
Một bên biến phụ phẩm thành nhiệt phục vụ sấy và giữ lại carbon dưới dạng biochar. Một bên lên men, ủ phụ phẩm thành phân hữu cơ để trả lại cho đất.
.jpg)
Với HTX Nông sản Khe Sanh, hiệu quả đầu tiên có thể nhìn thấy bằng tiền. Việc sử dụng phụ phẩm làm nhiên liệu có thể giúp giảm ít nhất 40% chi phí chất đốt cho mỗi mẻ sấy, tương đương khoảng 1,8 triệu đồng. Với 120 - 180 mẻ sấy mỗi năm, khoản tiết kiệm ước đạt 216 - 324 triệu đồng.
Bà Nguyễn Thị Hằng, Giám đốc HTX Nông sản Khe Sanh nhẩm tính: Mỗi năm, khoảng 750 - 1.200 tấn phụ phẩm có thể được đưa vào sử dụng, thu hồi khoảng 110 - 300 tấn biochar. Việc thay thế một phần củi, than trong công đoạn sấy cũng có thể giúp giảm ít nhất 20% lượng phát thải ở khâu này.
Những con số ấy cho thấy một điều khá rõ: kinh tế tuần hoàn không nhất thiết bắt đầu bằng những công nghệ quá lớn. Đôi khi, nó bắt đầu từ việc nhìn lại một thứ vẫn nằm ngay dưới chân mình.

Xa hơn câu chuyện tiết kiệm chi phí là câu chuyện về một ly cà phê có dấu chân phát thải carbon thấp hơn.
Khi quá trình sản xuất được số hóa, lượng nguyên liệu sử dụng, năng lượng tiêu thụ và phát thải có thể được đo lường, báo cáo, xác minh. Từ đó, doanh nghiệp có thể từng bước tính toán dấu chân carbon của sản phẩm, hướng tới xây dựng chuỗi cà phê carbon thấp và mở ra khả năng tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai.
Bà Đinh Thị Quỳnh Hoa, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh, cho rằng điều đáng giá của mô hình không chỉ nằm ở biochar hay nguồn nhiệt tạo ra, mà ở cách nhìn khác đối với phụ phẩm: khi có công nghệ phù hợp, những thứ từng bị xem là chất thải có thể trở thành nguồn tài nguyên; giảm phát thải đồng thời có thể tạo ra khoản tiết kiệm và gia tăng giá trị cho sản phẩm.
Câu chuyện ấy không chỉ dành cho cây cà phê. Phụ phẩm của hồ tiêu, lúa, sắn, cao su hay cây ăn quả... cũng có thể được nghiên cứu để đưa trở lại chu trình sản xuất, miễn là có công nghệ và quy mô phù hợp.

Riêng đối với cà phê, dư địa ở Quảng Trị không nhỏ. Hiện toàn tỉnh có 3.706,9 ha cà phê, trong đó 3.434 ha đang cho sản phẩm. Cùng với những mùa quả chín là một lượng phụ phẩm đáng kể được tạo ra.
Theo bà Nguyễn Hồng Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị, nếu biết cách tận dụng nguồn phụ phẩm này, hiệu quả mang lại không chỉ là giảm chi phí, nâng cao giá trị hạt cà phê mà còn góp phần giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Đây cũng là hướng đi cần được nghiên cứu, nhân rộng để khai thác tốt hơn giá trị còn lại trong chuỗi sản xuất cà phê của tỉnh, qua đó thúc đẩy sản xuất theo hướng xanh, bền vững.