Câu chuyện nông nghiệp hôm nay
Nông sản Lâm Đồng trước bài toán tỷ USD: Cần tái cấu trúc chuỗi giá trị!
Sau sáp nhập địa giới hành chính, Lâm Đồng có dư địa lớn để mở rộng sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế tài nguyên thành giá trị xuất khẩu tỷ USD, các chuyên gia cho rằng tỉnh cần tái cấu trúc chuỗi liên kết, tăng năng lực bảo quản và đẩy mạnh chế biến sâu.
Lâm Đồng sau sáp nhập có quy mô sản xuất lớn, dư địa thương mại rộng
Ngày 4/9/2026, bài toán nâng giá trị nông sản Lâm Đồng được đặt ra tại hội thảo “Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững gắn với tiêu thụ sản phẩm tỉnh Lâm Đồng năm 2026”.

Sự kiện do Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Hiệp hội rau củ quả Việt Nam, Hiệp hội các Nhà bán lẻ Việt Nam và CLB Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới tổ chức, với sự tham dự của hơn 100 doanh nghiệp và hội viên.
Tại diễn đàn, ông Phan Đình Khiêm - Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Lâm Đồng, cho biết tỉnh đang sở hữu nền tảng sản xuất hàng hóa đáng kể.
Các ngành hàng chủ lực gồm rau, hoa, chè, cà phê, cây ăn quả, chăn nuôi, thủy sản và sản phẩm OCOP. Toàn tỉnh hiện có hơn 4.000 tổ hợp tác và hơn 1.500 hợp tác xã, với khoảng 160.000 thành viên.
Riêng khu vực nông nghiệp có 1.290 tổ hợp tác và 959 hợp tác xã, trong đó trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn với 739 đơn vị. Toàn tỉnh có 8 liên hiệp hợp tác xã. Doanh thu bình quân đạt khoảng 2,5 tỷ đồng/năm; thu nhập thường xuyên của lao động đạt 75–78 triệu đồng/năm.
Hệ sinh thái liên kết cũng đã hình thành với 428 chuỗi sản xuất, tiêu thụ, thu hút 47.590 hộ nông dân và 192 hợp tác xã làm đầu mối. Diện tích liên kết trồng trọt đạt 85.000 ha, sản lượng khoảng 920.000 tấn/năm.
Chăn nuôi đạt 2,23 triệu con, cung ứng 210.000 tấn/năm. Hơn 1.200 mã số vùng trồng và hơn 300 mã số cơ sở đóng gói tạo nền tảng quan trọng để Lâm Đồng mở rộng thị trường xuất khẩu.
Điểm nghẽn chuỗi giá trị là vốn, hạ tầng và chế biến
Dù có quy mô lớn, các chuỗi giá trị nông nghiệp của Lâm Đồng vẫn thiếu chiều sâu.
Theo ông Phan Đình Khiêm, nhiều liên kết chưa đủ bền vững, chủ yếu dừng ở hợp đồng tiêu thụ hoặc kết nối đầu vào, đầu ra. Quan hệ hợp tác chiến lược, dài hạn giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.
Năng lực tài chính và quản trị của nhiều hợp tác xã chưa đáp ứng yêu cầu thị trường. Vốn điều lệ thấp, cơ sở vật chất thiếu đồng bộ, khả năng tiếp cận khách hàng và kênh phân phối còn hạn chế.
Đáng chú ý, bảo quản và chế biến vẫn là điểm nghẽn lớn, khiến nhiều sản phẩm phải bán tươi hoặc chỉ qua sơ chế thô. Điều này làm giảm biên lợi nhuận và tăng rủi ro khi thị trường biến động.
Khó khăn về vốn, quỹ đất và hạ tầng sản xuất tiếp tục cản trở đầu tư vào kho lạnh, logistics và dây chuyền chế biến...
Chế biến sâu mở biên lợi nhuận mới
Đồng quan điểm, nhưng ở một góc nhìn khác, ông Nguyễn Văn Mười - Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới, cho rằng thị trường xuất khẩu nông sản đang mở ra cơ hội lớn.

Bằng chứng là chỉ trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đã đạt 4,78 tỷ USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài ra, Việt Nam có khoảng 50 loại cây ăn quả, trong đó thanh long, vải, sầu riêng, chuối, xoài và nhiều sản phẩm nhiệt đới khác có lợi thế thương mại rõ nét. Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho chế biến và xuất khẩu.
Tuy nhiên, ông Mười cũng cho rằng thách thức đặt ra là người tiêu dùng ngày càng khắt khe, đòi hỏi sự minh bạch trong toàn bộ quy trình sản xuất, từ đồng ruộng đến bàn ăn, đồng thời phải bảo đảm tính thân thiện với môi trường.
Để giải bài toán này, ông Mười khẳng định việc đẩy mạnh chế biến sâu là chìa khóa giúp tối ưu hóa giá trị gia tăng và giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch.
"Các sản phẩm sấy khô, cô đặc, đóng hộp hoặc chiết xuất vi chất có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 40% đến 70% so với bán quả tươi truyền thống. Đồng thời, kết hợp với du lịch nông nghiệp, chuỗi giá trị rau quả còn có thêm dư địa doanh thu mới", ông Mười nói.
Cần hệ sinh thái liên kết dẫn dắt bởi doanh nghiệp
Để chuyển hóa lợi thế sản xuất thành năng lực cạnh tranh, Lâm Đồng xác định doanh nghiệp là lực lượng dẫn dắt, hợp tác xã là trung tâm tổ chức sản xuất và nông dân là chủ thể trực tiếp.
Tỉnh đặt mục tiêu có ít nhất 50% hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả, có liên kết ổn định với doanh nghiệp hoặc tham gia sâu vào chuỗi giá trị.
Theo Liên minh Hợp tác xã Lâm Đồng, doanh nghiệp cần đồng hành ngay từ khâu xây dựng tiêu chuẩn nguyên liệu, hướng dẫn kỹ thuật đến thu mua, chế biến và đưa sản phẩm ra thị trường.
Mô hình liên kết được đề xuất bao gồm nông hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp đầu mối, cơ sở sơ chế hoặc chế biến, hệ thống phân phối, siêu thị, thương mại điện tử và người tiêu dùng.
Trong mô hình này, doanh nghiệp giữ vai trò đặt hàng, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm.
Hợp tác xã tổ chức vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, Liên minh Hợp tác xã Lâm Đồng kiến nghị tỉnh ưu tiên nguồn lực cho hạ tầng sản xuất, logistics, kho lạnh và trung tâm sơ chế, chế biến.
Đồng thời, tổ chức này cam kết đổi mới vai trò hỗ trợ, tập trung vào tư vấn quản trị, kết nối vốn và mở rộng thị trường.
Nếu các nút thắt này được tháo gỡ, Lâm Đồng có thể hình thành thế hệ hợp tác xã kiểu mới, đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nông sản trong nước và quốc tế.

