Văn hóa
Khói hương tháng Bảy nhớ Cha
Giữa tháng Bảy, tôi trở về quê dọn dẹp phần mộ để làm giáp năm cho cha. Đứng trước nấm đất đã xanh cỏ, nhìn làn khói hương bay mờ mắt, lòng tôi bùi ngùi nhớ thương cha, người bệnh binh cả đời mang di chứng chiến tranh, vừa gục ngã sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật.

Một đời trận mạc
Lúc nhỏ, nghe cha kể chuyện chiến trường, tôi chưa mường tượng hết sự khốc liệt của bom đạn. Tôi chỉ biết ông nhập ngũ năm 1971 tại huyện đội Bến Giằng (Quảng Nam) khi tuổi đời còn rất trẻ.
Là con trai một, lại mồ côi cha từ sớm, ông đã gác lại chuyện riêng để lên đường làm nhiệm vụ trinh sát, vận động bà con gùi nhu yếu phẩm tiếp tế cho bộ đội.
Hết kháng chiến chống Mỹ, ông được chuyển công tác, làm giảng viên bộ môn Kỹ thuật bắn súng bộ binh tại Trường Quân Chính 2 (thuộc tỉnh Gia Lai). Sau đó, ông lại lại tiếp tục khoác ba lô sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế.
Ở chiến trường K gian khổ, đồng đội của ông người đi sáng nay, chiều đã nằm lại dưới bom mìn của địch gài khắp nơi. Là một trong số ít người dân tộc thiểu số trong trung đội, bằng sự nhanh nhạy và gan lỳ, cha đã may mắn vượt qua lằn ranh sinh tử để trở về. Và một "món quà" ông mang về, là đùi phải vẫn còn vết găm mìn của một trận đánh ác liệt.
Tháng Bảy và những cơn đau
Nhưng vết thương ngoài da thịt không đáng sợ bằng kẻ thù vô hình, đó là sốt rét rừng. Suốt 3 năm ở chiến trường K, cha bị sốt rét hành hạ liên tục đến mức vàng da, vàng mắt.
Trận sốt rét ác tính cuối cùng ở tỉnh Stung Treng kéo dài hai tháng khiến cha suy kiệt, mờ cả đôi mắt và phải chuyển về nước điều trị.
Ngày ấy, cha đi biền biệt không tin tức, ở quê nhà có tin đồn cha đã hy sinh. Bà nội tôi đau đớn làm mâm cơm khóc tế (người Ve gọi là clâu nham) suốt mấy ngày liền từ nhà lên rẫy.
Chỉ có mẹ tôi là vẫn giữ niềm tin sắt đá rằng cha sẽ trở về. Cha về thật, nhưng mang thương tật trong người với những cơn đau nhức mỗi khi trái gió trở trời.
Sau này, dù ở nhà hay đi đâu, cha tôi vẫn giữ thói quen mặc bộ quân phục cũ. Nhất là dịp tháng 7 hàng năm, ngày Thương binh - Liệt sĩ, tôi thấy ông, vốn đã lặng lẽ, càng thêm trầm ngâm hơn. Sau này khi đã có chút hiểu biết, tôi nghĩ rằng chắc là ông nhớ đồng đội, kẻ mất người còn. Ông may mắn trở về, còn biết bao người đã vĩnh viễn nằm lại đâu đó dù khói súng nay không còn nữa.
Tôi lớn lên bên dáng vẻ quen thuộc ấy, nhưng cũng nhiều lần rụng rời chân tay khi chứng kiến cha lên cơn sốt co giật, nằm gục xuống giường vì di chứng sốt rét rừng hành hạ.
Mỗi khi trời trở lạnh, vết thương ở đùi tái phát cộng với những biến chứng cơn sốt ác tính cũ quay lại vắt kiệt sức ông. Bệnh tật dai dẳng cuối cùng đã quật ngã người lính gan lỳ năm nào. Cha tôi ra đi, khép lại cuộc đời sương gió nhưng đầy can trường.
Lời gan ruột trước lúc đi xa
Mùa đông năm 2023, trước khi cha yếu đi nhiều, tôi từng chở ông đi thăm khu tượng đài mẹ Thứ tại Quảng Nam cũ. Đứng lại ngắm nghía từng bức tượng thật lâu, cha thầm thì theo cơn gió rít: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Lời nói đó được rút ra từ xương máu của một người đã chứng kiến bao đồng đội ngã xuống, đã mang thương tật cả đời để đổi lấy sự bình yên cho quê hương.
Thắp nén hương lên nấm mộ sạch cỏ của cha trong chiều tháng Bảy, nhìn làn khói bay nhẹ theo gió, lòng tôi bùi ngùi. Nằm lại dưới lòng đất mẹ, chắc từ nay cha không còn chịu đựng những cơn sốt rét rừng hành hạ, không còn mất ngủ vì vết thương cũ rỉ máu.
Cha đi. Căn nhà vắng hẳn. Mỗi lần nhìn lên tủ thấy bộ quân phục cũ treo đó, lòng tôi thắt lại vì nhớ, nhưng cũng nhẹ lòng vì biết từ nay cha đã trút bỏ hết đớn đau, bệnh tật. Cha đã sống một đời can trường, làm tròn bổn phận của một người lính với quê hương, bản làng.
Hôm đứng bên mộ, thắp nén hương giáp năm cho cha gần ngày 27/7, tôi chỉ muốn nói nhỏ với cha một lời: Con luôn tự hào vì có cha là bệnh binh!

