Tài chính
Ngân hàng nhận chuyển giao ngân hàng 0 đồng:Đằng sau lợi nhuận tăng cao trong quí II, sức khỏe thực sự ra sao?
Được Ngân hàng Nhà nước cấp room tín dụng lớn từ việc nhận chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu kém, lợi nhuận quý II/2026 cuả các ngân hàng VPBank, MBBank hay HDBank được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng đó là các thách thức rủi ro.

Việc tham gia tái cơ cấu hệ thống thông qua hình thức nhận chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu kém đang mang lại cho VPBank, MBBank và HDBank đặc quyền lớn.
Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước ưu tiên cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng ở mức rất cao. Lợi thế này kết hợp với nền so sánh thấp của cùng kỳ năm trước giúp lợi nhuận quý 2 của ba đơn vị được dự báo sẽ bứt phá mạnh mẽ.
Dù vậy, việc tăng lợi nhuận luôn song hành với những rủi ro về chất lượng tài sản, buộc thị trường phải nhìn lại bức tranh tài chính qua lăng kính quản trị rủi ro thay vì chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng bề nổi.
Ngân hàng và bài toán bảo vệ biên lãi thuần
Thu nhập lãi thuần tăng vọt dự kiến sẽ đẩy lợi nhuận quý 2 của VPBank đạt 44%, HDBank là 35% và 34% tại MBBank.
Nguyên nhân đến từ dư địa tín dụng (khoản trống cho vay) dồi dào khi NHNN cấp hạn mức cho vay tối đa (room tín dụng) cho VPBank, HDBank và MBBank lần lượt đạt 34%, 37% và 30%.
Cùng với đó, việc nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% (theo Thông tư 25) đã tạo thuận lợi đáng kể thanh khoản cho các ngân hàng có cơ cấu kỳ hạn dài.
Nhờ sở hữu hạn mức tín dụng dồi dào, các ngân hàng đã chủ động đẩy nhanh tốc độ giải ngân dòng vốn ra thị trường.
Tốc độ này thể hiện rõ qua các con số: tín dụng của VPBank tăng tới 14% ngay từ tháng 4, HDBank bám sát lộ trình 20% trong nửa đầu năm, trong khi MBBank cũng đang tăng tốc để cán mốc 15%."
Tuy nhiên, dù sở hữu dư địa lớn, các đơn vị này phải đối mặt với bài toán duy trì hiệu quả sinh lời.
Để giải ngân thành công khối lượng vốn lớn, họ buộc phải cạnh tranh khốc liệt bằng các gói vay ưu đãi, chấp nhận hạ lãi suất đầu ra, trong khi vẫn phải giữ lãi suất huy động đầu vào hấp dẫn để đảm bảo thanh khoản đối ứng.
Áp lực chênh lệch này khiến biên lãi thuần (NIM) bị thu hẹp. Tại VPBank, giảm NIM là chiến lược chủ động nhằm ưu tiên chiếm lĩnh thị phần.
Với MBBank và HDBank, dù NIM đã có tín hiệu tạo đáy, áp lực chi phí vốn vẫn chưa thể giải tỏa hoàn toàn. Việc quy mô tín dụng phình to nhưng chất lượng biên lãi kém đi sẽ làm sụt giảm hiệu suất sinh lời trên tổng tài sản.
Đứng trước sự suy giảm này, dòng tiền đầu tư tổ chức có xu hướng đánh giá thận trọng, từ đó kìm hãm chu kỳ tăng giá bền vững của cổ phiếu trong dài hạn.
Thử thách kiểm soát nợ xấu
Đi kèm với việc mở rộng tín dụng nhanh chóng là nguy cơ suy giảm chất lượng tài sản.
Việc đẩy mạnh tốc độ giải ngân luôn làm tăng xác suất phát sinh nợ quá hạn, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ nợ xấu, nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tại các ngân hàng này đang có xu hướng tăng nhanh so với trung bình ngành.
Theo số liệu từ Báo cáo tài chính hợp nhất quý 1/2026, tại HDBank, chỉ trong ba tháng đầu năm, khối nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) đã tăng vọt 57%, từ mức 3.802 tỷ đồng hồi đầu năm lên 5.988 tỷ đồng.
Cùng chung xu hướng, khối nợ xấu nội bảng (từ nhóm 3 đến nhóm 5) của VPBank cũng tăng thêm 18,5%, chạm mức 37.283 tỷ đồng tính đến cuối tháng 3/2026.
Đáng chú ý, dù tổng quy mô tín dụng của VPBank tăng mạnh 10,3% (lần đầu vượt mốc 1,04 triệu tỷ đồng) giúp nới rộng mẫu số (tổng dư nợ cho vay), tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này vẫn đang neo ở mức 3,58%.
Áp lực nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) trở nên cấp thiết nhưng năng lực bộ đệm lại có sự phân hóa. Mức dự phòng khá mỏng của VPBank và HDBank khiến ngân hàng phải lập tức trích lập bổ sung nếu nợ xấu tiếp tục nhích lên.
Với MBBank, dù LLR an toàn ở mức 94%, việc kiên định với mục tiêu tuyệt đối 100% vẫn đòi hỏi một khối lượng nguồn lực lớn. Chi phí dự phòng gia tăng sẽ trừ thẳng vào lợi nhuận trước thuế.
Khi nợ xấu tăng vượt khả năng hấp thụ của lợi nhuận hoạt động, thu nhập ròng của cổ đông sẽ sụt giảm, khiến cổ phiếu bị chiết khấu định giá, ảnh hưởng đến dòng tiền chi trả cổ tức.
Bên cạnh đó, việc tiếp nhận các tổ chức yếu kém như GPBank, OceanBank, DongA Bank để lại những thách thức vận hành phức tạp và kéo dài. Dù được cơ quan quản lý cho phép khoanh vùng lỗ lũy kế và không hợp nhất khoản nợ xấu vào báo cáo tài chính, các ngân hàng mẹ vẫn phải trực tiếp tham gia vực dậy toàn diện hệ thống.
Họ phải rót vốn thực để thay mới hệ thống cốt lõi (Core Banking), giải quyết bài toán nhân sự dôi dư và tái định vị thương hiệu.
Việc nguồn lực dòng tiền và năng lực quản trị bị phân tán làm giảm hiệu năng hoạt động tổng thể, trực tiếp làm suy giảm tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE).
Trạng thái này đẩy cổ phiếu vào nguy cơ bị thị trường định giá thấp hơn giá trị thực trong dài hạn, cho đến khi quá trình tái cấu trúc thực sự mang lại kết quả.
Dưới góc nhìn chuyên gia, lợi nhuận quý 2 chưa phải là thước đo toàn diện để ra quyết định.
Khả năng bảo vệ biên lãi thuần, hiệu quả kiểm soát nợ xấu, độ dày của bộ đệm dự phòng và năng lực quản trị chi phí tái cơ cấu dài hạn, mới thực sự là những biến số quyết định chu kỳ tăng giá bền vững của các cổ phiếu ngân hàng.
