Giá cả

Giá cả

Thị trường nông sản 24/6: Hồ tiêu đứt chuỗi trầm lắng, cà phê hạ nhiệt

HẢI ĐÔNG • 24/06/2026 08:48

Thị trường nông sản sáng 24/6/2026 chứng kiến những biến động trái chiều đáng chú ý. Trong khi giá hồ tiêu bất ngờ bứt phá sau chuỗi ngày dài đi ngang, thì giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên lại tiếp tục xu hướng hạ nhiệt, lùi dần khỏi vùng đỉnh bất chấp lượng tồn kho trên thế giới đang ở mức thấp kỷ lục.

Cà phê trong nước giảm nhẹ, xuất khẩu áp sát mốc một triệu tấn

Thị trường nông sản sáng nay cho thấy giá cà phê trong nước tiếp tục xu hướng đi xuống, đưa mức giá trung bình toàn vùng về 88.600 đồng/kg, giảm 800 đồng/kg so với phiên trước.

Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, tại các vùng trồng trọng điểm, giá cà phê đã điều chỉnh giảm từ 700 đến 800 đồng/kg.

Hiện tại, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng mới) là nơi ghi nhận mức giá cao nhất với 88.700 đồng/kg sau khi giảm 700 đồng/kg. Trong khi đó, tại Lâm Đồng (cũ) giữ mức thấp nhất là 88.200 đồng/kg.

Đắk Lắk và Gia Lai hiện thu mua ở mức 88.500 đồng/kg sau khi điều chỉnh giảm 800 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, sàn London ghi nhận hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm nhẹ 0,25%, tương đương 9 USD/tấn, xuống còn 3.580 USD/tấn. Kỳ hạn tháng 9/2026 lại tăng 0,4%, tương đương 14 USD/tấn, lên 3.556 USD/tấn.

Ngược lại, sàn New York chứng kiến arabica bật tăng mạnh mẽ khi kỳ hạn tháng 7/2026 tăng tới 3,95%, tương đương 10,95 US cent/pound, lên mức 287,95 US cent/pound.

Kỳ hạn tháng 9/2026 tăng 3,35%, tương đương 8,95 US cent/pound, đạt 275,95 US cent/pound.

Đáng chú ý, số liệu thống kê từ Cục Hải quan Việt Nam cho thấy xuất khẩu cà phê nửa đầu tháng 6/2026 đạt 58 nghìn tấn, trị giá 268,6 triệu USD. Tăng 5,9% về lượng nhưng giảm 14% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/6/2026, tổng khối lượng xuất khẩu nông sản này đã đạt tới 985,7 nghìn tấn với trị giá gần 4,5 tỷ USD. Tăng 11,8% về lượng nhưng giảm 10,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Ngoài ra, với khối lượng thực tế đạt 985,7 nghìn tấn, ngành hàng cà phê Việt Nam đã hoàn thành tới 98,57% và chuẩn bị chạm ngưỡng một triệu tấn chỉ trong chưa đầy nửa đầu năm.

Thị trường nông sản sáng 24/6/2026 cho thấy giá cà phê trong nước tiếp tục xu hướng đi xuống.
Thị trường nông sản sáng 24/6/2026 cho thấy giá cà phê trong nước tiếp tục xu hướng đi xuống.

Hồ tiêu duy trì đà tăng tại các vùng trọng điểm

Trái ngược với đà giảm của cà phê, giá hồ tiêu trong nước tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi tăng tại nhiều vùng trồng trọng điểm. Hiện mức giá dao động trong khoảng 137.000 đến 139.000 đồng/kg.

Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, hiện khu vực Bình Phước (nay thuộc Đồng Nai) là nơi có mức tăng mạnh nhất khi nhích thêm 1.500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 137.500 đồng/kg.

Tại Gia Lai và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM), giá tiêu xô cũng tăng thêm 500 đồng/kg, lần lượt đạt mức 137.000 đồng/kg và 137.500 đồng/kg.

Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) tuy không có điều chỉnh mới nhưng vẫn tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu thị trường với mức giá cao nhất đạt 139.000 đồng/kg.

Đối với thị trường thế giới, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia giảm nhẹ 0,24%, tương ứng 17 USD/tấn, xuống còn 7.158 USD/tấn.

Trong khi đó, giá tiêu trắng Muntok của nước này lại tăng 0,44%, tương ứng 41 USD/tấn, lên mức 9.301 USD/tấn.

Tại các quốc gia sản xuất khác, giá nhìn chung không đổi khi tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ổn định ở mức 5.900 USD/tấn và Malaysia đạt 9.350 USD/tấn.

Riêng tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu giữ nguyên trạng thái đi ngang trong khoảng 6.100 đến 6.200 USD/tấn đối với các loại phân hạng 500 g/l và 550 g/l.

Còn tiêu trắng xuất khẩu duy trì ổn định ở mức 9.000 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Malaysia đạt 12.250 USD/tấn.

Thị trường nông sản chứng kiến giá lúa gạo phân hóa

Thị trường lúa gạo tại khu vực ĐBSCL không còn đi ngang hoàn toàn như các phiên trước mà bắt đầu có sự phân hóa rõ nét giữa các chủng loại lúa thường và lúa chất lượng cao.

Theo khảo sát tại một số nguồn và luagaoviet.com, giống lúa IR 50404 khi tăng nhẹ 100 đồng/kg, lên mức 5.500 đến 5.600 đồng/kg.

Một số giống lúa chất lượng cao lại ghi nhận xu hướng giảm nhẹ khi lúa OM 5451 giảm khoảng 50 đồng/kg, xuống còn 5.700 đến 5.800 đồng/kg. OM 34 giảm 100 đồng/kg, xuống vùng 5.500 đến 5.600 đồng/kg.

Nhóm lúa thơm như OM 18 và Đài Thơm 8, mức giá vẫn được giữ ổn định trong khoảng từ 6.200 đến 6.400 đồng/kg.

Còn đối với giá gạo nguyên liệu, kết thúc phiên giao dịch hôm qua cho thấy, hiện vẫn duy trì trạng thái đi ngang.

Cụ thể, gạo CL 555 dao động quanh ngưỡng 9.000 đến 9.100 đồng/kg, gạo IR 504 neo ở mức 8.700 đến 8.800 đồng/kg. Gạo OM 5451 giữ vững vùng giá từ 9.500 đến 9.600 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam tiếp tục giữ nhịp ổn định khi gạo Jasmine được chào bán quanh mức 505 đến 509 USD/tấn.

Gạo thơm 5% tấm dao động từ 485 đến 490 USD/tấn, và gạo 100% tấm ở mức 344 đến 348 USD/tấn.

Sức mua yếu khiến giá sầu riêng tiếp tục sụt giảm

Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại các vùng thu mua trọng điểm, mặt hàng sầu riêng đang phải chịu áp lực giảm giá.

Cụ thể, tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Thái VIP loại A hiện dao động ở mức 70.000 đến 71.000 đồng/kg. Loại B ở mức 50.000 đến 51.000 đồng/kg.

Với dòng sầu riêng Thái thông thường, loại A có giá từ 62.000 đến 68.000 đồng/kg, loại B từ 42.000 đến 47.000 đồng/kg.

Đối với phân khúc Ri6, loại A duy trì từ 36.000 đến 40.000 đồng/kg, loại B từ 21.000 đến 23.000 đồng/kg.

Các dòng cao cấp như Musang King loại A có giá 80.000 đồng/kg, loại B là 60.000 đồng/kg. Black Thorn loại A đạt 110.000 đồng/kg và loại B ở mức 90.000 đồng/kg.

Tại thị trường Đồng Nai, sầu riêng Thái VIP loại A dao động từ 79.000 đến 83.000 đồng/kg, loại B từ 58.000 đến 60.000 đồng/kg.

Sầu Thái loại A tại đây đạt từ 75.000 đến 80.000 đồng/kg, loại B từ 45.000 đến 55.000 đồng/kg.

Phân khúc Ri6 loại A dao động từ 36.000 đến 40.000 đồng/kg, trong khi loại B có biên độ khá rộng từ 21.000 đến 57.000 đồng/kg.

Sầu riêng Musang King loại A tại Đồng Nai đạt 108.000 đồng/kg, loại B đạt 88.000 đồng/kg. Dòng Black Thorn loại A và B lần lượt giữ mức 110.000 đồng/kg và 90.000 đồng/kg.

Còn tại thủ phủ Đắk Lắk, sầu riêng Thái loại A cũng hạ bớt nhiệt khi dao động quanh mức 75.000 đến 76.000 đồng/kg và loại B giữ mức 55.000 đến 56.000 đồng/kg.

Giá heo hơi phân tầng rõ rệt giữa các vùng miền

Thị trường heo hơi toàn quốc sáng nay vẫn ghi nhận mặt bằng chung dao động ổn định trong khoảng 62.000 đến 68.000 đồng/kg.

Miền Bắc tiếp tục đóng vai trò là vùng có nền giá cao nhất cả nước nhờ sức mua duy trì ở mức tốt.

Các địa phương bao gồm Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Phú Thọ, Sơn La và Hưng Yên đồng loạt neo ở mức đỉnh 68.000 đồng/kg.

Nhóm các tỉnh còn lại như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên cũng bám sát ngay sau với mức giá ổn định 67.000 đồng/kg.

Tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, thị trường cho thấy sự xếp tầng rõ rệt theo từng nhóm tỉnh thành.

Thanh Hóa dẫn đầu khu vực với mức giá 67.000 đồng/kg, tiếp theo là Nghệ An với 66.000 đồng/kg và Hà Tĩnh ở mức 65.000 đồng/kg. Quảng Trị ghi nhận mức giao dịch 64.000 đồng/kg.

Các địa phương gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng cùng đứng ở mức thấp hơn là 63.000 đồng/kg.

Trầm lắng nhất là thị trường miền Nam khi phần lớn địa phương vẫn chìm trong vùng giá thấp.

Ngoại trừ Đồng Nai và TP.HCM giữ được mức 63.000 đồng/kg, các tỉnh như Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, Vĩnh Long và Cần Thơ đều đồng loạt đứng ở mức đáy 62.000 đồng/kg.

Sắc đỏ bao trùm sàn cao su quốc tế

Thị trường cao su chứng kiến một phiên giao dịch ảm đạm khi sắc đỏ bao trùm hầu hết các sàn giao dịch lớn tại châu Á với mức giảm dao động từ 0,6% đến hơn 2%.

Cụ thể, tại Nhật Bản, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM sụt giảm trên tất cả các kỳ hạn, trong đó hợp đồng giao tháng 6/2026 giảm 1,01% xuống còn 427,80 JPY/kg.

Các kỳ hạn từ tháng 7 đến tháng 10/2026 cũng giảm đồng loạt, dao động quanh mức 430,00 đến 435,50 JPY/kg.

Tương tự, sàn Thượng Hải của Trung Quốc ghi nhận giá cao su tự nhiên giảm mạnh từ 1,08% đến 1,89%. Đưa giá các hợp đồng giao từ tháng 7 đến tháng 11/2026 về quanh ngưỡng 17.430 đến 17.515 CNY/tấn.

Sàn SGX của Singapore cũng không ngoại lệ khi giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 7/2026 giảm mạnh 2,07% xuống còn 222,50 Cent/kg.

Các kỳ hạn xa hơn từ tháng 8 đến tháng 11/2026 cũng giảm sâu, dao động từ 224,70 đến 225,50 Cent/kg.

Mặc dù thị trường thế giới lao dốc, giá thu mua mủ cao su trong nước vẫn duy trì được sự ổn định nhờ các phương án điều tiết từ các doanh nghiệp.

Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang, mủ nước loại 1 và loại 2 lần lượt được thu mua ở mức 463 đồng/TSC/kg và 458 đồng/TSC/kg.

Công ty Cao su Phú Riềng niêm yết giá mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá mủ nước phân mức 1 áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên đứng ở mức 452 đồng/độ TSC/kg, các mức thấp hơn lần lượt là 447 đồng và 442 đồng/độ TSC/kg.

Còn tại Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua mủ nước tại nhà máy đạt ngưỡng cao nhất là 545 đồng/độ/TSC/kg.

HẢI ĐÔNG