Giá cả
Thị trường nông sản 18/6: Cà phê nội địa chững lại, sầu riêng Thái vẫn 'một mình một chợ'
Trong phiên giao dịch sáng 18/6/2026, thị trường nông sản chứng kiến nhiều gam màu đan xen. Hồ tiêu và cà phê giảm nhẹ, lúa gạo giữ nhịp ổn định thì sầu riêng Thái vẫn khẳng định vị thế ở vùng giá cao.
Cà phê nội địa chững lại, thị trường thế giới vẫn sắc xanh
Thị trường nông sản sáng nay chứng kiến giá cà phê nhân xô tại khu vực Tây Nguyên hiện đang giao dịch trong khoảng 88.700 đến 89.100 đồng/kg.
Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) đồng loạt điều chỉnh giảm 100 đồng/kg, cùng chung mức giá thu mua 89.100 đồng/kg.
Khu vực Lâm Đồng (cũ) hiện có mức giá là 88.700 đồng/kg.
Trái ngược với đà giảm trong nước, giá cà phê thế giới lại ghi nhận những tín hiệu vô cùng khởi sắc.
Cụ thể, trên sàn London, hợp đồng robusta kỳ hạn tháng 9 đã thiết lập chuỗi tăng 6 phiên liên tiếp với tổng mức phục hồi lên tới 325 USD/tấn.
Riêng trong phiên ngày 17/6, hợp đồng giao tháng 7/2026 nhích thêm 11 USD/tấn lên mức 3.680 USD/tấn, còn hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 24 USD/tấn để vươn lên 3.622 USD/tấn.
Tại New York, giá cà phê arabica hợp đồng tháng 7/2026 cũng tăng nhẹ lên mức 277,85 US cent/pound, dù kỳ hạn tháng 9 có sự sụt giảm nhẹ về 271,9 US cent/pound.

Giá hồ tiêu vẫn neo ở vùng giá cao
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, giá tiêu nội địa sáng nay tại một số vùng trồng trọng điểm dao động trong khoảng từ 138.000 đến 140.500 đồng/kg.
Gia Lai và Đồng Nai là hai địa phương có mức giá thấp nhất thị trường khi lùi về 138.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), giá tiêu ở mức 140.000 đồng/kg. Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) tiếp tục ổn định với 139.500 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Lắk vững vàng duy trì ngôi vương với mức 140.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục được chào bán trong vùng 6.100 đến 6.200 USD/tấn, còn tiêu trắng xuất khẩu đạt 9.000 USD/tấn.
Các nước khác ghi nhận mức giá tiêu đen dao động từ 5.950 USD/tấn của Brazil đến 9.350 USD/tấn của Malaysia.
Tại thị trường Ấn Độ, tiêu Garbled có giá quy đổi tương đương 206.047 đồng/kg, loại Ungarbled ở mức 200.275 đồng/kg và tiêu Gram/lít đạt 197.389 đồng/kg.
Đối với phân khúc tiêu trắng, giá chào bán của Indonesia và Malaysia lần lượt là 9.211 USD/tấn và 12.250 USD/tấn.
Thị trường nông sản chưng kiến giá cả lúa gạo giữ nhịp ổn định
Bức tranh lúa gạo sáng nay tại khu vực ĐBSCL không có nhiều biến động khi kết thúc phiên giao dịch hôm qua.
Cụ thể, giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng neo ở mốc 6.400 đến 6.500 đồng/kg. Các giống khác như OM 5451, IR 50404 và OM 34 dao động trong khoảng từ 5.100 đến 5.800 đồng/kg.
Với mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu, gạo Sóc thơm và OM 380 cùng giao dịch ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Gạo IR 504 ở mức 8.700 đến 8.800 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. OM 5451 từ 9.500 đến 9.600 đồng/kg, và gạo thành phẩm IR 504 đạt 10.750 đến 10.900 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam duy trì ổn định với gạo Jasmine chào bán từ 504 đến 508 USD/tấn. Gạo 5% tấm từ 485 đến 490 USD/tấn và gạo 100% tấm dao động 343 đến 347 USD/tấn.
Các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan và Ấn Độ đều đồng loạt tăng nhẹ 1 USD/tấn cho các phân khúc gạo trắng.
Sầu riêng duy trì sức nóng, hàng VIP giữ giá cao
Dù nhiều địa phương đã bắt đầu bước vào chính vụ khiến nguồn cung dồi dào hơn, giá sầu riêng tại các vùng trồng trọng điểm vẫn neo ở mức rất cao.
Khảo sát từ một số nguồn và giasaurieng.net cho thấy, sầu riêng Thái loại VIP đang là mặt hàng đắt giá nhất khi duy trì mức 74.000 đến 83.000 đồng/kg.
Tại khu vực ĐBSCL, sầu Thái loại A có giá 71.000 đến 77.000 đồng/kg, loại B từ 51.000 đến 57.000 đồng/kg, trong khi hàng lỗi cũng được thu mua ở mức 65.000 đồng/kg.
Tại Đồng Nai và Tây Ninh, sầu riêng Thái loại A đạt mức 72.000 đến 79.000 đồng/kg.
Trái ngược với sầu Thái, giống Ri6 nội địa có phần hạ nhiệt hơn, giao dịch phổ biến từ 39.000 đến 46.000 đồng/kg cho loại A và 24.000 đến 31.000 đồng/kg cho loại B.
Đáng chú ý, các giống cao cấp như Musang King duy trì ổn định từ 75.000 đến 84.000 đồng/kg, cá biệt giống Black Thorn loại A tại Đồng Nai chạm mức 110.000 đồng/kg.
Heo hơi kéo dài đà trượt dốc tại miền Nam và miền Trung
Thị trường heo hơi sáng tiếp tục phản ánh sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng miền.
Miền Bắc hiện là khu vực duy nhất giữ được sự ổn định với mức giá dẫn đầu cả nước từ 67.000 đến 68.000 đồng/kg.
Trong đó, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên và Phú Thọ là những địa phương ghi nhận mốc đỉnh 68.000 đồng/kg.
Tại miền Trung và Tây Nguyên, giá heo hơi sáng nay ghi nhận xu hướng đi lùi, dao động từ 63.000 đến 67.000 đồng/kg.
Các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế và Lâm Đồng cùng mất đi 1.000 đồng/kg, kéo giá thu mua về quanh vùng 63.000 đến 65.000 đồng/kg.
Thanh Hóa vẫn là nơi bán được giá nhất khu vực với 67.000 đồng/kg.
Tương tự, sắc đỏ cũng lan rộng tại thị trường miền Nam.
Sau khi Đồng Tháp và An Giang hạ 1.000 đồng/kg, mức giá thấp nhất khu vực và cả nước đã bị kéo về 62.000 đồng/kg.
Các tỉnh thành còn lại như Đồng Nai, Tây Ninh, TP HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ neo ở mốc 63.000 đồng/kg.
Cao su nội địa bình ổn, thế giới lao dốc do áp lực chốt lời
Thị trường cao su quốc tế đang bước vào nhịp điều chỉnh giảm mạnh sau thời gian tăng trưởng ấn tượng.
Áp lực chốt lời đã phủ bóng lên khắp các sàn giao dịch châu Á. Tại Nhật Bản, các hợp đồng giao kỳ hạn tháng 6, tháng 7 và tháng 10 trên sàn TOCOM đều ghi nhận mức giảm tiệm cận 1%, dao động quanh mức 430 đến 439,7 JPY/kg.
Tại Thượng Hải, giá cao su tự nhiên cũng sụt giảm đồng loạt từ 0,95% đến 1,25% ở mọi kỳ hạn.
Tình trạng tương tự diễn ra trên sàn SGX của Singapore khi hợp đồng TSR20 lao dốc mạnh tới 1,81%, lùi sâu về mức 228,2 Cent/kg.
Khác với diễn biến tiêu cực từ thế giới, thị trường cao su trong nước lại đón nhận sự bình ổn tuyệt đối.
Mức giá thu mua mủ tại các công ty lớn không có sự xáo trộn. Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 và loại 2 ở mức 463 và 458 đồng/TSC/kg, trong khi mủ đông tạp có giá từ 404 đến 459 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, giá mủ nước đạt 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.
Công ty Bà Rịa phân loại chi tiết hơn với mủ nước dao động từ 442 đến 452 đồng/TSC/kg tùy nồng độ, còn mủ tạp và mủ chén được thu mua từ 13.500 đến 18.000 đồng/kg theo độ khô DRC.
Riêng tại Bình Long, giá thu mua mủ nước trực tiếp tại nhà máy ghi nhận mức khá cao là 545 đồng/TSC/kg.

