Giá cả
Thị trường nông sản 31/5: Cà phê mất mốc 90.000 đồng/kg, sầu riêng đón tín hiệu tích cực
Thị trường nông sản ngày cuối tháng 5 chứng kiến biến động mạnh khi giá cà phê bốc hơi 1.800 đồng/kg dưới sức ép từ nguồn cung toàn cầu. Trong khi đó, sầu riêng ghi nhận nhịp tăng nhẹ, lúa gạo xuất khẩu tiếp tục giữ vững vị thế, còn các mặt hàng hồ tiêu, heo hơi và cao su cơ bản duy trì trạng thái bình ổn.
Cà phê quay đầu giảm sâu dưới áp lực nguồn cung
Thị trường nông sản sáng 31/5 ghi nhận giá cà phê trong nước sáng 31/5 bất ngờ giảm mạnh gần 2.000 đồng/kg, lùi sâu khỏi mốc 90.000 đồng/kg.
Cập nhật từ giacaphe.com, tại các tỉnh Tây Nguyên cho thấy giá cà phê nhân xô đồng loạt giảm 1.800 đồng/kg so với phiên giao dịch trước đó.
Sự điều chỉnh này đã đưa mặt bằng giá thu mua lùi về vùng 86.800 đến 87.400 đồng/kg.
Cụ thể, khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu khu vực với mức giá thu mua đạt 87.400 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm xuống mức 87.300 đồng/kg.
Lâm Đồng (cũ) vẫn là địa phương có giá thấp nhất, giao dịch quanh ngưỡng 86.800 đồng/kg.
Đây được xem là phiên giảm mạnh nhất trong nhiều ngày trở lại đây, xuất hiện ngay sau khi giá cà phê có nhịp tăng đáng kể tiến sát ngưỡng 90.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, cả cà phê robusta và arabica đồng loạt lao dốc.
Tại sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm 78 USD/tấn, tương đương 2,19%, xuống còn 3.476 USD/tấn. Trong khi đó, hợp đồng giao tháng 9/2026 mất 68 USD/tấn lùi về 3.347 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá arabica ghi nhận mức giảm mạnh hơn khi hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 8,65 US cent/pound xuống còn 265,6 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 cũng giảm 3% về mức 258,7 US cent/pound.
Nguyên nhân chính khiến giá cà phê quay đầu giảm là dự báo thời tiết tại Brazil đang trở nên thuận lợi hơn cho hoạt động thu hoạch.

Hồ tiêu giữ vững mặt bằng nội địa, quốc tế phân hóa
Cũng theo giacaphe.com, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục kéo dài chuỗi ngày đi ngang, dao động từ 137.000 đến 142.000 đồng/kg.
Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn là hai địa phương có mức giá cao nhất cả nước với 142.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, hồ tiêu ở khu vực Bà Rịa Vũng Tàu (TP.HCM) được thu mua với giá 139.000 đồng/kg.
Đồng Nai và Gia Lai tiếp tục ghi nhận mức giá thấp nhất thị trường, cùng giao dịch quanh ngưỡng 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu ghi nhận diễn biến trái chiều. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm 38 USD/tấn xuống còn 7.152 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giảm mạnh 100 USD/tấn còn 6.100 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen Malaysia tiếp tục ổn định ở mức 9.350 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam duy trì trong khoảng 6.100 đến 6.200 USD/tấn đối với các loại 500g/l và 550g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 49 USD/tấn xuống 9.231 USD/tấn, còn Malaysia và Việt Nam không thay đổi, lần lượt duy trì ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
Lúa gạo bình ổn, xuất khẩu duy trì lợi thế
Thị trường lúa gạo sáng 31/5 theo cập nhật từ Sở NN-MT tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động từ 6.500 đến 6.700 đồng/kg.
Lúa tươi OM 5451 giao dịch từ 5.800 đến 6.000 đồng/kg, IR 50404 từ 5.400 đến 5.500 đồng/kg, còn OM 34 từ 5.100 đến 5.200 đồng/kg.
Thị trường gạo nguyên liệu và bán lẻ cũng chưa ghi nhận biến động lớn.
Gạo thành phẩm IR 504 dao động từ 10.750 đến 10.900 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.500 đến 9.600 đồng/kg, gạo CL 555 từ 9.000 đến 9.200 đồng/kg, gạo Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg, gạo OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg.
Các dòng gạo nguyên liệu IR 504 dao động 8.400 đến 8.550 đồng/kg, còn OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Hoạt động xuất khẩu tiếp tục là động lực chính của thị trường khi gạo Việt Nam duy trì lợi thế ở nhóm gạo thơm và chất lượng cao.
Gạo Jasmine chào bán từ 528 đến 532 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm từ 505 đến 520 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm từ 337 đến 341 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm đạt 440 đến 444 USD/tấn và 100% tấm khoảng 415 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ dao động 342 đến 346 USD/tấn, loại 100% tấm từ 280 đến 284 USD/tấn.
Thị trường nông sản ghi nhận giá sầu riêng tăng nhẹ
Cập nhật từ trang giasaurieng.net cho thấy, thị trường sầu riêng ghi nhận tín hiệu tích cực tại các kho thu mua.
Cụ thể, sầu Thái loại A dao động mức 69.000 đến 70.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 đến 2.000 đồng/kg so với những ngày trước.
Tại khu vực ĐBSCL, sầu Thái mẫu dễ loại A dao động từ 69.000 đến 74.000 đồng/kg, loại B từ 50.000 đến 54.000 đồng/kg, trong khi sầu Thái VIP đạt 75.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 loại A giao dịch từ 40.000 đến 43.000 đồng/kg, loại B ở mức 25.000 đồng/kg.
Dòng Musang King loại A đạt 72.000 đồng/kg, loại B là 52.000 đồng/kg. Riêng sầu riêng Black Thorn loại A neo cao ở mức 112.000 đồng/kg.
Tại khu vực Bình Phước (Đồng Nai), sầu Thái mẫu dễ loại A đạt 74.000 đến 75.000 đồng/kg, loại B từ 52.000 đến 55.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 loại A từ 40.000 đến 46.000 đồng/kg, loại B từ 30.000 đến 31.000 đồng/kg.
Musang King loại A ở mức 83.000 đồng/kg, loại B là 63.000 đồng/kg. Black Thorn loại A đạt 112.000 đồng/kg, loại B là 92.000 đồng/kg.
Khu vực Đồng Nai (cũ) thu mua sầu Thái loại A từ 70.000 đến 74.000 đồng/kg, loại B ở mức 51.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 loại A từ 40.000 đến 42.000 đồng/kg, loại B từ 25.000 đến 27.000 đồng/kg. Dòng Musang King loại A đạt 80.000 đồng/kg, loại B là 60.000 đồng/kg.
Tại Tây Ninh, sầu Thái loại A dao động 71.000 đến 74.000 đồng/kg, loại B là 51.000 đồng/kg, còn sầu riêng Ri6 loại A đạt 41.000 đồng/kg và loại B là 26.000 đồng/kg.
Heo hơi chững lại, đi ngang trên cả nước
Thị trường heo hơi sáng nay ghi nhận mặt bằng giá trên cả ba miền tiếp tục dao động trong khoảng 67.000 đến 68.000 đồng/kg và không còn địa phương nào duy trì mức giá từ 69.000 đồng/kg trở lên.
Tại miền Bắc, mặt bằng giá tương đối đồng đều. Hầu hết giao dịch ở mức 68.000 đồng/kg. Lào Cai và Điện Biên tiếp tục là hai địa phương có giá thấp nhất khu vực với 67.000 đồng/kg.
Ở miền Trung và Tây Nguyên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Lâm Đồng duy trì mức 68.000 đồng/kg.
Các địa phương còn lại gồm Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa giao dịch ở mức 67.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, Đồng Nai, TP.HCM, Tây Ninh và Vĩnh Long cùng chốt giá 68.000 đồng/kg. Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ giữ mức 67.000 đồng/kg.
Cao su nội địa bình ổn bất chấp biến động quốc tế
Thị trường cao su thế giới khép lại tuần giao dịch với sự phân hóa rõ nét giữa các sàn lớn.
Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải ghi nhận diễn biến tích cực nhất khi hợp đồng tháng 9/2026 đạt 17.805 CNY/tấn, tăng 1,14%.
Tại Nhật Bản, sàn TOCOM phục hồi chậm nhưng ổn định, hợp đồng tháng 10/2026 tăng lên 417,6 JPY/kg và tháng 9/2026 đạt 413,8 JPY/kg.
Trái lại, sàn SGX của Singapore vẫn giằng co do tâm lý thận trọng, hợp đồng TSR20 tháng 7/2026 phục hồi nhẹ lên 227,5 Cent/kg sau nhịp giảm sâu.
Khác với sóng gió trên thị trường quốc tế, giá thu mua mủ cao su trong nước được các doanh nghiệp duy trì ổn định tuyệt đối.
Tại Công ty Cao su Mang Yang, mủ nước loại 1 và loại 2 được thu mua ở mức 463 và 458 đồng/TSC/kg, mủ đông tạp loại 1 và loại 2 lần lượt là 459 và 404 đồng/kg.
Công ty Cao su Phú Riềng niêm yết giá mủ nước 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp 390 đồng/DRC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa giữ giá mủ nước theo ba mức độ TSC dao động từ 442 đến 452 đồng/độ TSC/kg, mủ tạp từ 13.500 đến 18.000 đồng/kg.
Tại Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua mủ nước tại nhà máy và đội sản xuất lần lượt đạt 545 và 535 đồng/độ TSC/kg, còn mủ tạp giữ mức 18.000 đồng/kg.

