Chuyện làm ăn
Du lịch cộng đồng từ... lòng tự tôn bản địa |Bài 4: Ông Đoàn Sung - Người đi ngược
Trong khi nhiều làng quê đang dần bị "Kinh hóa", đánh mất bản sắc vì du lịch; thì có những vùng đất tại miền Trung đang chuyển động rất khác.
Ở đó, từng nông dân, diêm dân, hay những bà cụ làng chài từng mang nặng mặc cảm nghèo khó bỗng trở thành những "người thầy". Họ tự tin đứng lớp, truyền trao tri thức bản địa. Khách đến, trả "học phí", học cách sống chậm lại và được sưởi ấm bởi tình thân nguyên sơ.
Thông qua sự dấn thân của những người mở đường tận tụy, loạt bài viết sẽ đưa độc giả bước vào một hành trình "du lịch học tập cộng đồng" - nơi đánh thức lòng tự tôn, để những người yếu thế tự đứng lên giữ rừng, giữ biển và kiêu hãnh sống bằng chính di sản của tổ tiên mình.
Bài 1: Gò Cỏ - Từ những năm tháng 'không có đám cưới, chỉ có đám tang'
Bài 2: “Làm du lịch không cần biết tiếng Anh, chỉ cần biết… tiếng làng mình”
Bài 3: Bí mật ‘hoang sơ và văn minh’ về Gò Cỏ
Bài 4: Ông Đoàn Sung - Người đi ngược
Bài 5: "Cộng đồng này không chỉ nghèo mà còn tổn thương"

Bài 4: Ông Đoàn Sung - Người đi ngược
Tôi ngồi với ông Đoàn Sung trọn một ngày hè. Mặt trời ban nãy còn ở ngoài biển. Giờ nó đã như một trái cam khổng lồ nấp sau núi. Suốt thời gian đó, trong tâm trí tôi chỉ vọng lại một câu hỏi: người đàn ông này đang trả nợ điều gì? Một thứ nợ kỳ lạ. Nợ niềm tin rằng con người với con người có thể đi cùng nhau mà không cần cạnh tranh; nợ một cách sống mà ông biết là đúng nhưng chưa mấy ai chịu tin vào...
Lần dừng chân của người nhìn xa, đi xa...
Giám đốc Đoàn Sung của Liên hiệp hợp tác xã Cộng đồng điều phối Du lịch bền vững - ngoài sáu mươi tuổi, vóc người tầm thước. Nụ cười luôn rạng rỡ, và thật. Đặc biệt là đôi mắt tinh anh của người hay nhìn xa, đi xa… rồi cuối cùng neo lại ở một làng chài cổ quê nhà.
.jpg)
Bà con làng Gò Cỏ vẫn nhớ lần đầu gặp ông - cái buổi chiều ông rảo bộ quanh làng, hỏi sao không thấy người trẻ. Họ còn nhớ ông mặc áo có mũ trùm, tay xắn, quần đen dài. Hồi đó ông tròn trịa. Nhưng thời gian ở Gò Cỏ, ngủ trong lán tranh, ăn cơm cùng bà con, đổ tiền của vào chốn chưa thu lại được đồng nào đã bào mòn ông theo đúng nghĩa đen. Ông Sung tôi ngồi cùng trong lán hôm đó gầy guộc, da sạm, mặt nhăn như quả táo tàu. Đó là kết quả của hành trình mà vùng đất cỏ này đã tạc lên người ông.
Cậu bé “lì” bị giặc thả xuống giếng
Cái lán tranh tre không có vách, vững chãi trên lưng núi làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) nhìn thẳng ra biển. Đó là một phần của Trung tâm du khách làng Gò Cỏ. Đó cũng là không gian sinh hoạt chung của hợp tác xã du lịch cộng đồng mà ông cùng người dân gây dựng. Tôi ngồi hỏi chuyện ông từ sáng. Mái lán đổ bóng râm che mát người ngồi ngoài trời. Đến trưa, mặt trời vượt đỉnh, ánh nắng hè rọi thẳng xuống đầu. Chúng tôi phải lùi dần, lùi dần vào lán. Câu chuyện kéo mãi sang chiều.
.jpg)

Trung tâm du khách làng Gò Cỏ hôm nay chính là mảnh đất dân làng “đòi” ông phải mua để làm tin. Gọi là mảnh đất, nhưng đá nhiều hơn đất. Khắp nơi nhấp nhô tảng, phiến từ con đường nhỏ giữa làng ra sườn núi. Dưới chân núi là bãi cát lấp lánh kéo ra biển. Ông mua, đổ công, của để phát quang từng bụi cây chằng chịt, gạn lấy mặt bằng. Rồi từ đó dựng lên những ngôi nhà trình đất, chuyển hộ khẩu từ thành phố Hồ Chí Minh về. Mảnh đất này, ông không mặc cả khi chủ đất nói giá. Thậm chí ông trả cao hơn để chứng minh với bà con việc ông đồng hành với họ là thật.
Chẳng ai ngờ một luật sư, doanh nhân, “tay chơi” đồ cổ nức tiếng lại chuyển hộ khẩu về làng chài.
.jpg)
Trước khi tôi đến, ông đang trao đổi ngắn với mấy bạn trẻ khiếm thính bằng tay và ánh mắt. Ngày không có khách đoàn, các bạn pha chế đồ uống cho khách lẻ. Chợt một đứa trẻ chừng mười ba tuổi chạy tới, reo lên: “Ông Sung, ông Sung!”. Rồi chúng tí toét kể những chuyện gì đó mà tôi nghe không hiểu. Tên thằng bé là Nam. Bà con trong làng đều biết Nam khờ khệch hay quấy người lớn. Cả làng bảo nó lì lợm không nghe lời ai. Thế nhưng đứng trước ông Sung, Nam như trở thành người khác. Ông Sung nhìn thằng bé, cười: “Cả làng đều đùa thằng Nam là con, cháu ông Sung. Ai cũng thấy tôi thương nó nhất, nhưng không ai biết lý do. Vì nó lì giống tôi hồi nhỏ”.
Ông khẽ chùng giọng. "Nam là đứa trẻ sinh ra từ những lần người mẹ “mâng mâng” của nó bị xâm hại". Đứa trẻ lớn lên không có gì để mất. Cái lì của nó, ông hiểu hơn ai hết.
.jpg)
Hồi ông còn nhỏ, ở xã Phổ Vinh (huyện Đức Phổ cũ), lính Mỹ đi càn hay tóm những đứa trẻ trong vùng xuống hỏi. Lúc đó cậu bé Sung chưa đến mười tuổi. Chúng cột chân rồi thả ngược xuống giếng. Rồi lại kéo lên hỏi cộng sản đâu. Không nói, thả xuống tiếp… Ông kể chuyện đó, giọng đều đều, mắt nhìn ra phía biển lấp lánh nắng hè. “Mấy lần thả xuống, kéo lên như vậy, nhưng tôi lì lắm”, ông nói, rồi cười.
Tôi tin, người ta có thể lì vì sợ, vì tự ái, vì cứng đầu. Nhưng cái “lì” của đứa trẻ bị treo ngược dưới giếng thì khác. Đó là cái lì của một đứa trẻ đã học được, từ rất sớm, rằng không khai không phải vì dũng cảm. Mà vì đó là điều đúng, phải làm. Dù cái giá phải trả là bị thả xuống nhiều lần nữa. Ông kể chuyện đó, như một ký ức không thể quên, cũng không diễn giải nhiều, chỉ xem là một “mảnh đời” đã từng xảy ra và ở lại rất lâu trong trí nhớ.
Cái lì theo ông mãi về sau đó, có lẽ hình thành từ một tuổi thơ côi cút, bơ vơ. Cha ông là bộ đội, hoạt động ở Quảng Nam suốt những năm chiến tranh. Mẹ ông là liệt sĩ. Ông sống với bà nội một thời gian rồi được gửi sang cho người cô ở Phổ Ninh nuôi giúp.
.jpg)
Bà cô cũng nghèo, một mình nuôi hai con, lại đi phụ hồ nên cuộc sống rất chật vật. Không đủ ăn, cô giao cho Sung một thùng cà rem và bảo đi bán. Đứa trẻ 8 tuổi ấy rảo chân trần khắp đường làng. Cái thùng trước ngực nặng hơn vóc người. Nắng miền Trung đổ thẳng xuống đầu. Có hôm bán được, có hôm ế. Có hôm gặp đứa bạn cùng xóm không có tiền - thì cho. Ông không nhớ mình đã đi bộ bao nhiêu cây số mỗi ngày, chỉ nhớ cái cảm giác của thùng kem lúc nặng trĩu trước cổ, khi vơi dần theo từng bước chân. Tối về, cậu xin vào trường học mở trong chùa làng. Đèn dầu leo lét. Thầy dạy chữ cho đám trẻ ngồi bệt dưới nền đất. Cậu bé Sung ngồi cuối, lưng áo còn ướt mồ hôi, nhưng mắt dán vào trang giấy không rời.
“Tiền bán cà rem đủ sống, đủ để bà cô nấu cơm cho”. Câu nói ấy như thể đó là một thỏa thuận công bằng giữa hai người lớn, chứ không phải chuyện của một đứa trẻ 8 tuổi.
Nhưng cuộc sống ấy cũng không kéo dài. Chưa đầy một năm sau, người cô không thể tiếp tục nuôi, phải gửi cháu trở lại quê sống với bà nội. Tuổi thơ ấy gói trong một không gian chừng mười cây số của miền biển Quảng Ngãi. Từ Phổ Vinh sang Phổ Khánh, rồi lên Phổ Châu (các xã cũ của huyện Đức Phổ trước đây), chỉ cách nhau vài cây số nhưng với một đứa trẻ, mỗi lần phải dịch chuyển là cả một thế giới khác.

Ba năm sau, Sung được đưa đi vòng qua Lào để ra Bắc học, sau giải phóng mới trở về. Cả tuổi thơ là hành trình dài mà phần lớn thời gian sống trong những môi trường tập thể. Cũng vì vậy mà ông học được cách tự xoay xở, tự đi tiếp chứ không chờ đợi. Nhưng lại thiếu những kết nối tình thân bền chặt. Không có ngôi nhà nào thực sự là của mình. Không có bữa cơm nào mà ông biết chắc ngày mai vẫn được ngồi ăn ở đó.
Năm 16 tuổi, trường nội trú ở Quảng Ngãi báo có cha đến tìm. Sung bước ra sân, một người đàn ông thấp, nhỏ đứng ở cổng trường nhìn vào. Hai người nhìn nhau. Đó là lần đầu tiên trong đời ông nhìn thấy mặt cha. Cảm xúc đầu tiên của cậu thanh niên 16 tuổi ấy không phải vui, cũng không tủi hay nghẹn ngào. Đó chỉ là sự ngạc nhiên: “Ủa, sao ba mình lùn dữ? Lùn hơn cả mình”.
Ông kể câu đó với tôi vẫn bằng giọng rổn rảng như sóng biển đập mạnh vào gành đá. Tôi không biết phải phản ứng thế nào. Ngồi im một lúc rồi hỏi lại: Vậy lúc đó - lần đầu tiên được gặp cha, ông có xúc động không? Ông nhìn ra biển. Một hồi mới nói: “Xúc động sao được. Trong ký ức của mình, không hề có người đàn ông mà mình kêu là “ba” đó mà”.
Câu trả lời ấy không chút lạnh lùng, chỉ thật. Một đứa trẻ lớn lên vắng bóng cha, mồ côi mẹ, bị đẩy từ nhà này sang nhà khác, từ xã này qua xã khác. Đứa trẻ đó đã sớm không có chỗ để neo mong chờ, nên cũng không có gì để vỡ ra khi gặp mặt. Chỉ còn lại sự quan sát đơn thuần. Nhưng tôi nghĩ, chính sự quan sát đó - cái thói quen nhìn người mà không bị lớp xúc cảm che phủ - đã theo ông suốt cuộc đời. Và có lẽ, cũng chính những đứt gãy từ thuở nhỏ mới giải thích được tại sao người đàn ông này lại đặc biệt nhạy cảm trước những cộng đồng bị tổn thương.
(Còn nữa)