Chuyện làm ăn
Du lịch cộng đồng từ... lòng tự tôn bản địa |Bài 1: Gò Cỏ - Từ những năm tháng 'không có đám cưới, chỉ có đám tang'
Trong khi nhiều làng quê đang dần bị "Kinh hóa", đánh mất bản sắc vì du lịch; thì có những vùng đất tại miền Trung đang chuyển động rất khác.
Ở đó, từng nông dân, diêm dân, hay những bà cụ làng chài từng mang nặng mặc cảm nghèo khó bỗng trở thành những "người thầy". Họ tự tin đứng lớp, truyền trao tri thức bản địa. Khách đến, trả "học phí", học cách sống chậm lại và được sưởi ấm bởi tình thân nguyên sơ.
Thông qua sự dấn thân của những người mở đường tận tụy, loạt bài viết sẽ đưa độc giả bước vào một hành trình "du lịch học tập cộng đồng" - nơi đánh thức lòng tự tôn, để những người yếu thế tự đứng lên giữ rừng, giữ biển và kiêu hãnh sống bằng chính di sản của tổ tiên mình.
Bài 1: Gò Cỏ - Từ những năm tháng 'không có đám cưới, chỉ có đám tang'
Bài 2: “Làm du lịch không cần biết tiếng Anh, chỉ cần biết… tiếng làng mình”
Bài 3: Bí mật ‘hoang sơ và văn minh’ về Gò Cỏ
Bài 4: Ông Đoàn Sung - Người đi ngược
Bài 5: "Cộng đồng này không chỉ nghèo mà còn tổn thương"

Bài 1: Gò Cỏ - Từ những năm tháng ‘không có đám cưới, chỉ có đám tang’
Chiều bên hiên nhà bà Lê Thị Tình, ông Bùi Văn Có - một ngôi nhà cấp bốn ven biển nhìn ra phía gành đá triệu năm, sóng biển xô bờ không ngừng nghỉ, bọt tung trắng xóa từng đợt. Ông Có gần 70 tuổi, giữa đêm chèo thuyền nan ra biển. Bà Tình ngoài 60 tuổi, 4g sáng đã ngồi bờ biển chờ chồng về để gỡ cá đưa xuống chợ Nại.
Lẽo đẽo theo chiếc xe đạp của bà qua những dốc mòn khấp khểnh đá, tôi hỏi bà có mệt không, bà cười: “Quen rồi, bỏ không được”. Cái câu trả lời ngắn ngủn ấy, giản dị đến mức người thành phố nghe xong chỉ thở dài - không phải vì thương, mà vì nhận ra một điều gì đó mình đã “bỏ” mất từ lúc nào không hay.
Không biết chữ cũng là một giá trị
Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) là một làng chài cổ. Ngôi làng mang trong mình gần ba ngàn năm văn hóa Sa Huỳnh - Champa - Đại Việt. Những giếng đá Chăm vẫn được dùng mỗi ngày. Hầm trú ẩn chiến tranh nằm ngay trong nhà dân. Ở đó có những người già không biết chữ. Nhưng khi họ kể chuyện, cả hội trường khoa học cấp quốc gia lặng im lắng nghe.
Chuyện bà Nguyễn Thị Vân lên diễn đàn hội thảo khoa học tại Quảng Ngãi là một trong những hình ảnh đọng lại lâu nhất trong tôi.
Hôm đó, hội trường đầy vest và cặp da, nhà khoa học, quan chức và nhà nghiên cứu. Bà xuất hiện với nón lá, áo bà ba, chiếc túi vải và vài cái bánh ít dành ăn trưa. Không ai hướng dẫn bà phải nói gì. Ông Đoàn Sung - người thành lập mô hình du lịch cộng đồng Gò Cỏ - nhắc bà nhớ một câu: “Chỉ cần rõ lịch sử làng và hiểu chính cuộc đời mình”.
Buổi sáng bà lên hát điệu bài chòi Rừng dừa. Chiều bà đứng lên kể chuyện làng bằng ký ức mộc mạc. Bà kể, bằng giọng của người đàn bà đã qua ngót bảy mươi năm sống ở một làng từng bị cả xã hội quay lưng. Cả hội trường im lặng rồi đứng dậy vỗ tay. Ra về, bà thốt: “Mình không biết chữ. Nhưng bây giờ mới biết rằng người không biết chữ cũng có giá trị”.
Câu nói đó không phải là tự an ủi. Đó cũng không phải là lời động viên từ ai đó đứng ngoài nhìn vào. Đó là kết quả của một hành trình dài mà ông Đoàn Sung gọi là “đánh thức nội lực”. Hành trình giúp người dân nhận ra cái họ đang có, đang sống, chính là tài sản, là giá trị.

Gò Cỏ không được đầu tư hạ tầng bê tông hay nghỉ dưỡng. Cái mà ông Sung và đội ngũ tình nguyện viên đổ vào nơi đây không thể đo đếm bằng tiền. Đó là sự đồng hành, sự lắng nghe, và cái nhìn khác. Nhìn vào một bà lão không biết chữ, để thấy trong họ cả một nền văn hóa sống. Không phải ngẫu nhiên mà Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh, sau chuyến thăm Gò Cỏ, đã khẳng định đây là “mô hình phù hợp và có thể nhân rộng ở nhiều địa bàn miền núi”.
Mồn một ký ức về... ánh sáng
Bà Nguyễn Thị Gá - người hàng xóm của bà Vân, tuổi cũng ngoài sáu chục - ngồi kể cho tôi nghe chuyện hồi kéo điện về làng những năm 1994, 1995.
Công ty điện lực khảo sát rồi bỏ cuộc vì địa hình quá khó. Bấy giờ Gò Cỏ nằm biệt lập. Vòm núi như vòng tay ôm trọn làng. Nó giữ làng trước bao trận đạn pháo - cả từ phía biển vào, lẫn phía Sa Huỳnh lên. Và cũng chính sự bảo bọc của tự nhiên ấy đã “cô lập” làng khỏi sự phát triển.
Nhưng dân làng không chờ nhà nước mang điện đến. Cả làng lớn nhỏ vác cột, đào hố xuyên đá cứng dưới nắng trưa gắt gỏng. Mỗi hố đào được, họ trả nhau năm mươi ngàn đồng, quyết tâm có điện. “Không làm thì làng vẫn tối, mà tối thì càng không ai ở lại”, bà Gá nói gọn.
Đêm bóng điện đầu tiên thắp sáng, trẻ con đi thành từng tốp chạy vừa reo “điện, điện!” - tiếng reo hồn nhiên mà mấy mươi năm sau bà Vân, bà Gá nhắc lại vẫn rơm rớm nước mắt. Không một tờ giấy nào ghi lại hành trình ấy, không một câu chữ nào lưu vào văn bản, nhưng ký ức sống trong lòng những người không biết chữ lại bền.
Nghị lực phi thường của những cuộc đời đã đi quá nửa
Để hiểu cái tự hào hôm nay của người Gò Cỏ, phải hiểu cái tủi nhục ngày trước. Một thứ tủi nhục không chỉ là nghèo, mà là bị nhìn như người thấp kém.

"Họ coi mình rẻ lắm"
Bà Nguyễn Thị Đào, sinh năm 1954, đã bảy mươi hai tuổi, ngồi trước hiên nhà kể với giọng đều đều. Lời bà không vướng vất chút trách móc hay uất ức nào. Bà chỉ là kể lại thực tế. “Nghèo ba đời bốn đời, không phải nghèo cái đời của mình đâu. Rất nghèo. Ở trong cái xó này mà đi tới đâu là họ cũng khinh thường. Họ coi mình rẻ lắm”.
Bà Trần Thị Thương (73 tuổi, chủ homestay Bài Chòi) tiếp thêm một câu khiến tôi nhớ mãi: “Con trai trong làng lấy vợ khó lắm. Con gái cũng vậy. Người ta nghe tới Gò Cỏ là ngán rồi. Những mối duyên dang dở ấy không vì tình cảm, mà vì hai chữ quê quán”. Không phải họ không ưng nhau - chỉ là bên kia nghe tên làng là lắc đầu.
Bà Đào kể thêm một chi tiết khiến tâm trí tôi đeo bám mãi. Người già trong làng, khi ra ngoài, đôi khi còn bị người ta vỗ nón, dúi đầu, miệt thị thẳng mặt. “Ở Gò Cỏ mà ra đây làm gì?...”.
Nghe câu đó, lòng người ra đi tức, người ở lại buồn. Và cứ vậy, thế hệ này sang thế hệ khác, cái mặc cảm ăn sâu vào tiềm thức của từng hộ gia đình. Đến độ bà Vân đã ngửa mặt lên mà kêu “ông trời ơi xuống cứu làng con. Ngoài kia xã hội phát triển, giàu có. Sao Gò Cỏ chúng con vẫn mãi nghèo khó thế này…”.
Bà Thương thì nhớ thuở chưa làm du lịch: “Tui đi từ bốn giờ sáng đến sáu giờ chiều. Mười ba tiếng đồng hồ, mặt trời chưa mọc đã ra, mặt trời sắp tắt mới về - đổi lấy một khoản tiền không đủ để gọi là một ngày công no ấm”.
Đó là cuộc đời của phần lớn phụ nữ trên sáu mươi tuổi ở Gò Cỏ, trước khi ông Đoàn Sung xuất hiện.
"Làng mình... đẹp hơn Cù Lao Chàm"
Năm đó, 2017, ông Đoàn Sung - luật sư kiêm doanh nhân làm kinh tế di sản - lần đầu ghé Gò Cỏ. Sau một hồi đi quanh làng nhỏ, ông thảng thốt: “Sao làng chỉ có người già, con nít?”. Bà Vân níu ông ngồi lại nghe “bể khổ” của làng. Nhiều năm nay, làng không có đám cưới, chỉ có đám tang. Ông hứa: “Sang năm tôi về đây làm du lịch”. Bà Vân không tin, dân làng không tin, họ xem đó là câu nói của khách qua đường.
Nhưng năm sau ông Sung trở lại thật. Ông đưa bà con đi tham quan Cù Lao Chàm, Hội An. Bà Vân và ông Trần Khương xung phong đi trước. Kế đến là nhóm bà Thương, bà Đào… Các bà kể: “Hồi đó, tụi tui đi tham quan Cù Lao Chàm, thấy Cù Lao Chàm không đẹp bằng làng mình mà bà con làm du lịch quá trời. Trong khi làng mình đẹp hơn, đường lớn đã mở, đi lại thuận tiện hơn”.
Với một người phụ nữ đã cả đời đã bị ám ảnh rằng mình ở một xó núi không ai thèm nhìn - thì đó là một cuộc cách mạng nhận thức.
Về đến làng, bà con họp bàn với nhau, rồi quyết tâm: làm du lịch. Bà Đào nói thẳng khi nhớ lại buổi đầu: “Ban đầu tụi tui sợ lắm. Tự nhiên có ông ở đâu về bảo làm du lịch. Tụi tui nghĩ: lỡ ổng lừa gì rồi đi mất thì sao?”. Họ không sợ thất bại. Họ sợ bị bỏ lại thêm một lần nữa, sau tất cả những lần bị bỏ lại trước đó.
Nhưng ông Sung không đi. Để neo chắc hơn niềm tin cho bà con, ông đồng ý mua đất (đúng ra là đất nằm xen đá), khai hoang, dựng nhà và chuyển hộ khẩu về Gò Cỏ. Và từ hành động đó, dân làng bắt đầu tin. Bà Đào có một ví von mộc mạc đến xót xa, mà lại chính xác kỳ lạ. “Tụi tui ví “ông chủ tịch” như miếng xốp giữa biển. Dân làng bám vào miếng xốp đó mà đi lên. Nhờ miếng xốp đó mà tụi tui mới có được cuộc sống như thế này”.
"Ở trong lòng mình thôi"
Các bà cũng không quên thời đoạn dịch COVID-19 ập đến. Hợp tác xã Du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ vừa mới hình thành thì một mạch ba năm gần như không có khách. Bà Thương kể: “Dù dịch bệnh đến, phải nghỉ ba năm, nhưng tụi tui không nhụt chí. Vẫn quyết tâm làm, không lùi. Cứ ở trong lòng mình thôi”.
“Ở trong lòng mình thôi”. Nghe như lời của người tu hành, chứ mấy ai ngờ là lời của người đàn bà hơn bảy mươi tuổi, từng bị khinh, từng mò mẫm từ bốn giờ sáng, từng sợ người lạ về làng rồi bỏ đi. Và bây giờ đang nói với tôi rằng dù thế giới đóng cửa lại, cái gì người Gò Cỏ đã giữ trong lòng thì vẫn còn nguyên đó.
Hồi năm 2018, 2019, có một gia đình người Pháp đến ở nhà bà Thương cả tuần. Không biết tiếng của nhau, bà con dùng công cụ dịch trên điện thoại để nói chuyện. Chính cái kết nối vụng về nhưng chân thật ấy lại tạo ra mối duyên bền hơn nhiều thứ sắp đặt kỹ lưỡng. “Đến bây giờ, họ vẫn nhắn tin, gửi hình qua, nói là nhớ và muốn quay lại” - bà kể, giọng không có vẻ khoe, chỉ là nói thật một điều đang làm bà ấm lòng.
Không phải vì khách nước ngoài đến thì làng mình sang hơn. Mà vì người ta còn nhớ, người ta còn muốn trở lại, nghĩa là thứ bà đang giữ gìn và trao đi là có giá trị thật. Đối với người phụ nữ quá nửa đời người bị khinh khi, điều đó lớn hơn bất cứ khoản thu nhập nào. Bà Thương nói với vẻ hãnh diện: “Bây giờ ra ngoài, người ta nhìn, mình tự hào chớ. Mình như đại diện cho cả làng di sản Gò Cỏ rồi”. Bà Đào tiếp lời, giọng đo đếm như kiểm toán: “Tới bây giờ chưa thành công gì hung. Nhưng mà như mười phần thì nó thành công tám phần rồi, còn hai phần nữa thôi”.
(Còn nữa)
Bài 2: “Làm du lịch không cần biết tiếng Anh, chỉ cần biết… tiếng làng mình”




.jpg)


