Nông thôn mới

Nông thôn mới

Từ ký ức khoai sắn đến trang trại kiểu Pháp: Chuyện đổi đời trên vùng đất lửa

MỘC MIÊN • 19/04/2026 08:11

Chừng hai mươi năm trước, tôi hỏi một đồng nghiệp: “Quê chú ở mô?”. “Dạ, Ao Lầy”. “Nhà chú làm chi?”. Hắn trả lời… cái rét bằng câu hỏi: “Ao Lầy, không làm ruộng thì hỏi anh làm chi?”.

Ao Lầy, xa rồi ký ức buồn
Làng quê hôm nay

Cách đây 3 năm, tôi hỏi một lãnh đạo huyện là chỗ quen: “Khá không anh?”. “Được. Nhưng quán ăn thì ít, quanh chỗ tau làm chỉ có 1 quán bún và 1 quán phở. Nói rứa mi hiểu. Sáng đi làm tau vẫn nấu cơm ở nhà để ăn”.

Giử cho đất thở

Nơi đó thuộc xã Tam Vinh của Tam Kỳ, sau tách ra huyện Phú Ninh thì thuộc thị trấn Phú Thịnh. Bây giờ lại nhập, nó thuộc về xã Chiên Đàn. Từ đây xuống thành phố tỉnh lỵ Tam Kỳ của Quảng Nam chưa đầy 10 km. Một lí giải đơn giản vì sao dịch vụ khó phát triển, là vì thuần nông, lại quá gần tỉnh, có mở quán xá cũng thua.

Ngồi với tôi là anh Nguyễn Văn Lộc, cán bộ hội nông dân xã. Nhớ lại hồi đó về đây, thấy cây cối thành rừng, giờ ngó lại lạ quá chừng. Đường nhựa phong quang, rộng rãi, nhà cửa san sát. “Đường này nối qua 3 huyện, làm sau khi tách huyện, chứ trước đây làm chi có đường”, anh nói. Hèn chi.

Anh Lộc nói thêm: “Anh thấy đó, nhiều miếng ruộng bị bỏ, bà con trồng cây khác. Còn xa kia, ông đó trồng mít. Cả sào lúa, lời chừng 200 ngàn nếu trúng mùa, thì làm chi cho cực. Ở đây làm ớt, có liên kết sản xuất hẳn hoi, nhưng bà con cũng không mê lắm”. “Dưa hấu là chính?”. “Đúng. Ớt chỉ có 5ha, nhưng dưa là 350 ha. 1 sào dưa, nếu trúng, lời hơn 25 triệu. Nếu dưa hấu được giá, chỉ cần 5000 đ/kg, là đã lời 1500-2000 đồng rồi”.

ỚT LÀ CÂY GÓP PHẦN ĐỔI ĐỜI
Ớt là cây góp phần đổi đời cho nhiều người ở vùng đất Phú Ninh gian khó năm xưa

Chuyện bỏ ruộng, nhìn đâu cũng thấy, xét ở góc độ hiệu quả, là một khước từ không cần chữ ký của người nông dân. Họ quay lưng với di sản-mảnh ruộng, một thứ tưởng là bảo vật gia truyền. Về mặt chủ trương, đây là thất bại về chính sách, và nó loay hoay suốt cho đến bây giờ, đổi thay không kịp trước bao cơn lốc.

Nhưng chia sẻ này của tôi, cùng với dẫn chứng từ anh Lộc, đã bị bà Nguyễn Thị Hà và chị Trương Thị Hải Yến ở thôn Thịnh Đức “bóp chết không kịp ngáp”. Vườn, nhà bà Hà khang trang, khá đẹp, rộng rãi, được xếp Top ở đây trong cuộc thi “Nhà sạch, vườn đẹp, đường thông thoáng” trong phong trào thi đua nông thôn mới ở Chiên Đàn. Chỉ tay ra cánh đồng cách nhà mấy bước chân, bà nói: “Vợ chồng cô già rồi, nhưng 4 sào ruộng cũng không bỏ, dù cô có buôn bán nhỏ thêm từ 2015”.

Chiêu đàn hôm nay
Sự đổi thay chóng mặt ở nơi một thời khói lửa, khiến nhiều người từng biết, ngỡ ngàng

Nắng chiều vàng trên đồng xanh, gió khiến lúa thì thào một điệu slow như mặc định một cái lẽ, rằng đằng sau lớp sóng lăn tăn, bình yên làng mạc không phải là nằm chơi, bỏ hoang, mà một mạch sống âm ỉ níu người. “Không làm lúa, đi mua gạo ăn, cỡ 1 tháng thôi, là biết điều liền”, bà trầm ngâm. Chị Yến xen vô: “Nhiều người bỏ ruộng, mua gạo hai tháng, “đớ” luôn. Gạo đắt, lại chưa chắc ngon và sạch. Rồi ở mình nuôi gà, heo, không có lúa thì lấy chi cho nó ăn?”. “Cả xã có 1150 ha đất lúa, nếu bỏ hết thì sao sống nổi, khi dịch vụ ít ỏi?”, tôi hỏi. “Không có đâu anh-chị nói-ở đây bà con xen canh: Lúa ngắn ngày-bắp-dưa hấu-ớt. Thay đổi cây trồng liên tục, có khoảng nghỉ ngơi, là không làm đất kiệt”.

Tôi nghe lời chị, ngẩn ngơ ra. Phát ngôn khác chi chuyên gia trên đồng, thì đúng là tư duy làm ruộng ở quê này đã khác, và nó gửi một thông điệp không mang màu u ám, đã hiện diện. Như đọc được điều tôi nghĩ, bà Hà lẫn chị Yến dắt tôi về với ký ức một thuở chưa xa.

…Cô nhớ hoài hồi đó, hơn 30 năm trước, khổ không chi bằng. Nhà tôn rách nát, ông chồng phải lên núi cắt cây đế về lợp. Đó, cái đường trước ngõ, hồi đó là bờ ruộng, nắng thì bụi, mưa phải bùn chứ phải bê tông xe ô tô chạy như chừ. Khuya cô đạp xe đi cắt rau lang cho heo, té lộn đầu, gãy tay. Nằm mà nghĩ không biết khi nào mới có miếng ngói lợp nhà. Nhớ lúc sinh đứa đầu, khoai ăn ngày 3 bữa, muối tiêu cũng không có mà chấm. Làm hợp tác xã, gạo đen sì, lại thiếu, kêu con bé ra chợ mua mấy lon về ăn, nó lội qua kênh, bị trôi, may mà vớt kịp. Đói quá, ông chồng phải đi vùng đồng bào thiểu số để đổi hàng cho họ, lấy sắn bắp về ăn. Có đâu như chừ, đẳng cấp một trời một vực. Vợ chồng cô tay trắng mà làm nên, mà ở đây không phải mình cô khá đâu con. Lớp trẻ chừ mới giỏi, toàn làm bằng kỹ thuật, giàu lắm.

CHIÊN ĐÀN HÔM NAY
Nông thôn mới đã làm cho làng quê "lột xác"

…Em nhớ đi cấy, nhổ cỏ, cắm đầu trên ruộng. Nhà nghèo tới mức má em sinh đứa em, mà chỉ có nước uống nước muối loãng để giử cơ thể khỏi kiệt, chứ trong nhà đâu có chi ăn. Một bữa có người mời đám giỗ, ba em nói mắc công việc chắc không đi, má em kiên quyết đẩy cho ông đi cho bằng được. Khi ông đi về, bà nói: Anh đi thì em mới ăn thêm được phần cơm của anh ở nhà!

Chuyện khổ thì kể sao hết. Vẫn lời chị Hà, làm ruộng bây giờ sướng chết luôn. Cấy cũng máy. Phun thuốc có thêm donre. Gặt cũng máy, thuê 200 ngàn/sào, mình đi phụ hồ, làm thêm, mỗi ngày công 500 ngàn, về trả 200, còn dư 300, khỏi tốn công thuê mướn người khác. “Bà con nhanh lắm-chị sôi nổi-Hễ ngó ớt có xu hướng có giá là chuyển đổi, xong qua dưa hấu, rồi bắp, đậu, lúa. Anh hỏi làm giàu ở đây được không hả? Được chứ sao không. Chỉ cần trúng vài mùa dưa hấu, là hốt mớ tiền”. Bà Hà xen vô: “Một đời cô khổ, chừ thấy làng xóm, công trình này nọ, mát mắt. Nói thì họ kêu mình “nổ”, chứ ai có thấm cực mới thấy chừ sướng. Trồng, nuôi chi cũng được, miễn là không bỏ ruộng”. “Ao Lầy hết…lầy rồi phải không cô?”. “Cả xã này hết “lầy” lâu rồi con ơi”, bà cười.

Khổ thì biết chứ khá thì không

Chiên Đàn đã là xã NTM và đang phấn đấu nâng cao, khi trong ba xã được nhập chung là Tam Vinh-Tam Thái-Tam Đàn, thì Tam Thái đã là NTM nâng cao. Nơi đây hưởng lợi thế từ hạ tầng từ trung tâm tâm hành chính huyện Phú Ninh. Nhưng thiên hạ biết đến, là cùng vài xã khác, là dán hiệu Dưa hấu Kỳ Lý, có mã số vùng trồng hẳn hoi. Dưa hấu Kỳ Lý có chất lượng sản phẩm vượt trội so với các nơi khác, bởi vùng trồng dưa đều là đất pha cát, có vi lượng cao nên dưa chắc ruột hơn và có màu đỏ tươi, vị ngọt thanh hơn, lại đã làm theo quy trình VietGap, bán rất chạy. Nên chẳng lạ nông dân ham làm dưa.

Nhưng dù các con số từ các chỉ tiêu KT-XH của xã, phần lớn đều đạt, vẫn làm tôi phân vân, bởi ở quê, làm nông vẫn là xương sống cho mọi chuyện. Dưa hấu lâu nay vẫn chưa hết bài “giải cứu”. Ai cũng làm. Khi lâm, là chìm chung. Đi tìm sự khác biệt trong làm ăn, ngoài việc thêm yếu tố đa dạng ngành nghề, thì nó bộc lộ khả năng vẫn tiềm năng lẫn lối thoát khi có “bão” nông sản.

Tôi đi tìm anh Đỗ Quang Diên Khánh ở thôn Tân Quý-người đầu tiên ở Quảng Nam nuôi heo kiểu Pháp.

trai heo
Trang trại heo của anh Khánh

Có điện thoại tới anh. Tôi đọc được phút nhíu mày rồi giãn ra ở người đàn ông sinh năm 1979, trải qua đủ nghề, đi Nam, rồi về lại quê dựng nghiệp. “Hôm nay có xe cân heo”. “Bao nhiêu con?”. “350 con”. “Lỗ không?”. “Ổn anh. Đầu ra em vững, có thấp mấy vẫn theo hợp đồng. Sau tết giá khá tốt, có lúc lên tới 90 ngàn/kg”. “Sợ nhất là gì?”. “An toàn dịch bệnh. Hễ mà có, là chết cả trại, mọi thứ không lơ mơ được”. Rồi anh nói thêm “lời lỗ như lật bàn tay”.

trai heo 1
Anh Khánh (ngoài cùng, bìa phải) đang trao đổi kỹ thuật với nhân viên

Xem ra anh khá kiệm lời. Vài năm trước anh tham gia chuyển giao, tập huấn mô hình cho bà con, hiện có gần 10 hộ tham gia, nhưng mức độ còn nhỏ và không được như thế này. Trang trại của anh được thiên hạ biết đến bởi chiếm lĩnh nhiều thị trường. “Bà con không làm được như anh, vì sao?”. “Chỉ cần ở môi trường lạnh, thời gian dài để đảm bảo an toàn trước dịch bệnh dù không có dịch, rồi tuân thủ tất cả các quy trình an toàn sinh học, bà con không chịu được”. Tôi biết anh vốn học thú y ra, nên có nền vững hơn trong kỹ thuật. Rồi suất đầu tư lớn. Hai yếu tố này là mấu chốt của vấn đề.

Nhưng anh “bẻ kèo”: “Ngoài năng lực, quyết tâm, thì làm nông nghiệp cao ở quê, phải có sức chịu cực khổ, không phải là kiểu cực khổ nắng mưa, mà là đối mặt với thất bại. Em đi uống rượu với bạn, xong nó nằm ngủ khò khò, còn em thao thức lo, thì tài sản, tâm huyết mình ở đó, lo không biết ngày mai ra sao, khi thị trường, môi trường mình đầy biến động. Nên anh hỏi ở đây lứa em nhiều người khá không, thì em không biết, chứ khổ thì em biết. Đó là em”.

Một tiếng cười không kém sảng khoái của người thành đạt và dám chơi, biết mình ở đâu, làm gì. Một sự chọn lựa đổi đời, đổi nghề không giống hàng xóm, và đã thành công. Một cái dấu mộc cho quyết tâm làm giàu ngay chính quê mình, bằng cái nghề không lạ, nhưng thời buổi đã khác, nếu có lạ, thì đó là khác lạ tư duy, buộc chính mình thay đổi. Đó là những chủ nhân “cứng” của làng quê nghèo một thuở này.

Sao không là nhà nông?

Tôi gật, nhớ chuyện bà Hà, chị Yến nói, nhìn đường ngang ngõ tắt nhà cửa, thu nhập, sinh hoạt đầy sinh khí, hiểu Ao Lầy hay cả Chiên Đàn đã chôn vùi ký ức buồn, nó chỉ hiện diện trong nỗi nhớ thuở làm hợp tác xã nông nghiệp trăm ngàn thứ cười ra nước mắt, và xa hơn, nằm trong trang sử đầy máu của xứ này, rằng căn cứ Ao Lầy-Kỳ Thịnh từ 1965-1970 đã gánh 5000 tấn bom đạn, kể cả chất độc hóa học; 217 người chết vì bom đạn, sát hại (chiếm 30% dân số). Nỗi khổ làm nông, dù công nghệ có thay thế đến mấy, vẫn không mất đi, nhưng đổi đời là điều không phủ nhận được, khi cả xã con số cận nghèo chỉ còn 0,92/0,82%, nghèo là 0,1%...Nhà nông tự chủ trên cánh đồng, họ chưa làm được ngon lành như nơi khác, nhưng chịu vượt lên chính mình để bát cơm luôn đầy, nơi đây đã làm được.

19dưa hấu
Dưa hấu là "át chủ bài" làm nên sự giàu có của bà con. Ảnh Trần Thường.

Chính mảnh ruộng đó, mấy chục năm không xê dịch, nhưng sắc màu đã khác. Tôi nhắc lại cái điều rằng, mấy năm trước khi còn tỉnh lỵ nhưng nó vẫn là quê, thì bây giờ tiếc hay không, vẫn thế. Anh Thái Bình Bí thư Đảng ủy xã quả quyết: “Mảnh ruộng là quê, bỏ ruộng sao còn nông thôn? Nhà nông thì có sao? Bây giờ vấn đề là giống đó, cây đó cần nâng giá trị, chất lượng lên, để dần dần bà con chuyển biến trong tư duy giá trị mà làm ăn bền vững. Đầu ra thì nhà nước phải lo chứ không phải đổ hết cho nông dân. Muốn thị trường có thì chất lượng phải tốt lên. Chúng tôi tập trung vào đây, hướng tới 2030 toàn xã là NTM nâng cao, thì đời sống người dân phải nâng cao. Đây là việc lớn nhất. Còn gần tỉnh lỵ hay không, mà sống không tốt hơn, thì cũng vô nghĩa”.

Tôi nhớ lời chị Trương Thị Yến Hà, rằng hồi đó 1 sào dưa hấu cần 4 người làm, làm riết, bà con rút kinh nghiệm, chừ 1 người làm là xong, đỡ lắm…Có lẽ đây là một “mã số” định danh cho cuộc chuyển xoay đang thổi trên đồng.

MỘC MIÊN