Chính sách
Vòng lặp dược liệu ở A LướiBài 2: Chính quyền ở đâu khi niềm tin bị đánh tráo?
Dự án thất bại thì đã rõ mười mươi. Nhưng thiệt hại thì ai phải gánh chịu, vẫn chưa có hồi kết. Nhiều cuộc thương thảo bất thành đã diễn ra. Hải Teo nói rằng, công ty cam kết hỗ trợ một nửa số tiền do mình đã bỏ ra nhưng điều anh muốn là bồi thường những thiệt hại do mình gánh chịu. Nếu không anh sẽ khởi kiện ra tòa.

“Phù phép” cho gấc
“Công ty đã lừa các hộ dân rồi, trong đó có em”, lời Hải Teo nói vào giữa tháng 4/2026 làm cho câu chuyện giữa chúng tôi chùng xuống trong giây lát. Gần hai năm mòn mỏi chờ đợi một câu trả lời xác đáng từ doanh nghiệp đã bào mòn niềm tin của Hải Teo và nhiều nông dân khác. Một chữ “lừa” phát ra từ người nông dân vùng cao chân chất này nghe cay đắng biết nhường nào!.
Mà cũng lạ, dự án ghi rõ: “trồng dược liệu quý” nhưng gấc (tên khoa học: Momordica cochinchinensis) dù là vị thuốc truyền thống trong Y học cổ truyền (hạt gấc gọi là Mộc miết tử, màng hạt giàu chất chống oxy hóa), lại không thuộc danh mục dược liệu quý hiếm cần bảo tồn đặc biệt của Bộ Y tế. Việc gắn mác “dược liệu quý” dường như nhằm mục đích tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Chương trình 1719. Một dự án mang tính nhân văn mà chính quyền dành cho người dân vùng cao.
Trước đó, dự án trồng sâm Bố Chính cũng diễn ra tương tự, như một kịch bản đã được lập trình sẵn. Doanh nghiệp tiếp cận nông dân, đưa ra những cam kết về bao tiêu sản phẩm. Tin lời doanh nghiệp, tin về một viễn cảnh đổi đời, nhiều nông dân đã chuyển đổi đất đai để cùng “liên kết đầu tư” với niềm tin cùng nhau hưởng lợi.
Đến khi dự án đổ bể do cây chết hàng loạt vì nấm và thiếu hỗ trợ kỹ thuật, Hải Teo phải gian nan lắm mới đòi được quyền lợi của chính mình và đồng bào mình. “May chút nữa là xôi hỏng bỏng không”, Hải Teo nói.
Một mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp đúng nghĩa phải đáp ứng đủ điều kiện: ràng buộc pháp lý, trách nhiệm cụ thể và cơ chế xử lý. Nhưng nhiều mô hình liên kết đến với người dân vùng cao hầu như thiếu vắng những điều kiện tiên quyết trên. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho nông dân, bên yếu thế hơn trong mô hình liên kết khó đòi quyền lợi chính đáng, khi không may xảy ra sự cố.
.jpg)
Niềm tin của dân:
Khi những kịch bản tương tự lặp lại với những cái tên dự án, những doanh nghiệp khác nhau, câu hỏi không còn nằm ở một mùa vụ thất bại hay một dự án cụ thể, mà ở chính cách các mô hình được đưa xuống thực tế. Đó là sự lỏng lẻo trong quản lý, sự thiếu giám sát của chính quyền địa phương và trách nhiệm chưa rõ ràng, minh bạch từ cả hai phía doanh nghiệp và nông dân.
Mô hình liên kết sản xuất không sai. Cái chưa đúng ở đây là cách triển khai trên thực tế. Đó là cần có hợp đồng mẫu chuẩn, vai trò trung gian giám sát mạnh mẽ hơn từ chính quyền và HTX và một cơ chế chia sẻ rủi ro rành mạch. Lúc đó, bất cứ xảy ra sự cố nào đi nữa, nông dân chắc chắn cũng sẽ cảm thông với doanh nghiệp. Và doanh nghiệp cũng không thể có cớ thoái thác trách nhiệm trước những thiệt hại có thể đo đếm được của nông dân.
Nông dân A Lưới, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số với tính cách chân chất, thật thà, sẵn sàng dám thử những cây trồng mới để thoát nghèo. Nhưng điều kiện sống khó khăn, khả năng tiếp cận chính sách pháp lý trong làm ăn, nhất là với các hợp đồng sản xuất, mua bán từ doanh nghiệp đưa tới.
Nhưng nếu chính quyền cứ tiếp tục để họ mang niềm tin và vốn liếng, “đánh cược” vào những cam kết suông, thì vòng lặp cay đắng này sẽ không bao giờ kết thúc. Niềm tin của người dân vùng cao vốn trong veo như suối nguồn, nhưng nếu cứ bị mang ra làm vật thế chấp cho những dự án 'treo' hay những bản hợp đồng lỏng lẻo, thì cái giá phải trả không chỉ là tiền bạc, mà là sự đứt gãy của cả một chiến lược thoát nghèo bền vững.
Đừng để vòng lặp dược liệu cứ quay mãi.

