Giá cả
Thị trường nông sản 12/4: Cà phê và hồ tiêu đảo chiều tăng nhẹ, lúa gạo nội địa chững nhịp
Thị trường nông sản trong nước ngày 12/4/2026 ghi nhận giá cà phê, hồ tiêu và sầu riêng đồng loạt tăng nhẹ nhờ tín hiệu tốt từ xuất khẩu, thị trường lúa gạo và cao su lại trầm lắng. Đáng chú ý, giá heo hơi cho thấy sự phân hóa rõ rệt khi miền Bắc và miền Trung suy giảm nhưng miền Nam lại nhích tăng cục bộ.

Cà phê đảo chiều tăng nhẹ, Arabica thế giới dẫn dắt thị trường
Thị trường cà phê nội địa ngày 12/4 đã phát đi tín hiệu tích cực sau nhiều phiên điều chỉnh.
Tại khu vực Tây Nguyên, giá thu mua tăng từ 200 đến 300 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa mặt bằng chung dao động trong khoảng 85.200 đến 85.800 đồng/kg.
Khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục giữ ngôi vị dẫn đầu với mức 85.800 đồng/kg. Gia Lai và Đắk Lắk bám sát với giá 85.700 đồng/kg. Đà phục hồi này phần lớn nhờ sự hỗ trợ từ đồng nội tệ Brazil tăng giá và các biến động nguồn cung toàn cầu.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê arabica bật tăng mạnh mẽ. Trên sàn New York, hợp đồng tháng 5/2026 tăng 2,18%, vượt mốc tâm lý quan trọng để đạt 300,1 US cent/pound; hợp đồng tháng 7/2026 cũng tăng 2,19% lên 295,9 US cent/pound.
Tại sàn London, robusta giao kỳ hạn tháng 5/2026 nhích nhẹ 0,42% lên 3.324 USD/tấn, riêng hợp đồng tháng 7/2026 đi ngang ở mức 3.239 USD/tấn.
Các chuyên gia phân tích nhận định arabica đang phục hồi mạnh từ vùng đáy một tháng, kéo theo sự cải thiện nhẹ của robusta.
Hồ tiêu áp sát mốc 140.000 đồng/kg nhờ lực kéo xuất khẩu
Sáng 12/4, giá hồ tiêu trong nước đồng loạt tăng khoảng 500 đồng/kg sau chuỗi ngày trầm lắng, đưa mặt bằng chung lên mức 138.500 đến 139.500 đồng/kg.
Tín hiệu tích cực từ nhu cầu thị trường Mỹ tiếp tục là đòn bẩy cho giá tiêu nội địa. Đắk Lắk hiện có giá thu mua cao nhất cả nước ở mức 139.500 đồng/kg. Xếp thứ hai là Lâm Đồng với 139.000 đồng/kg. Các tỉnh Gia Lai, Đồng Nai và TP.HCM cùng đạt mức 138.500 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá tiêu duy trì ổn định với vài điều chỉnh kỹ thuật nhỏ. Tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l giữ vững mốc 6.100 đến 6.200 USD/tấn. Tương tự, tiêu trắng Việt Nam ổn định tại 9.000 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen Indonesia giảm nhẹ xuống 7.074 USD/tấn, tiêu trắng Muntok giảm còn 9.320 USD/tấn. Các thị trường khác như Brazil duy trì tiêu đen ASTA 570 ở mức 6.150 USD/tấn và Malaysia giữ mốc 9.300 USD/tấn.
Lúa gạo giao dịch chậm, giá thế giới đi ngang
Ngày 12/4, khu vực ĐBSCL chứng kiến sự trầm lắng trong các giao dịch mua bán lúa gạo. Cập nhật từ Sở NN-MT tỉnh An Giang cho thấy, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động từ 5.800 đến 6.100 đồng/kg; OM 5451 từ 5.500 đến 5.600 đồng/kg; IR 50404 từ 5.400 đến 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 ở mức 5.100 đến 5.200 đồng/kg.
Giá gạo nguyên liệu và thành phẩm xuất khẩu cũng duy trì bình ổn. Gạo Đài Thơm 8 nguyên liệu dao động từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg; OM 18 từ 8.900 đến 9.100 đồng/kg; OM 5451 từ 8.650 đến 8.750 đồng/kg.
Thị trường gạo xuất khẩu Việt Nam giữ giá ổn định. Gạo thơm 5% tấm chào bán từ 440 đến 445 USD/tấn; gạo 100% tấm từ 333 đến 337 USD/tấn; gạo Jasmine từ 452 đến 456 USD/tấn.
Mức giá này khá cạnh tranh so với thị trường Thái Lan khi gạo 5% tấm của họ đang ở mức 336 đến 340 USD/tấn và gạo 100% tấm từ 357 đến 361 USD/tấn. Thị trường Ấn Độ đi ngang với gạo 5% tấm chào giá 336 đến 340 USD/tấn.
Sầu riêng Ri6 tăng vọt, sầu Thái duy trì mức đỉnh
Giá thu mua sầu riêng tại các kho ngày 12/4 ghi nhận đà tăng mạnh đối với dòng Ri6, nhích thêm 15.000 đến 20.000 đồng/kg lên mức 100.000 đến 110.000 đồng/kg cho loại A. Ri6 loại B dao động từ 80.000 đến 93.000 đồng/kg và loại C từ 50.000 đến 65.000 đồng/kg.
Tại ĐBSCL, sầu riêng Thái VIP loại A duy trì mức giá rất cao từ 150.000 đến 165.000 đồng/kg; loại B đạt 145.000 đồng/kg. Sầu Thái mẫu dễ loại A cũng đứng ở mức 110.000 đến 120.000 đồng/kg.
Sầu riêng Musang King giao dịch nhộn nhịp từ 130.000 đến 145.000 đồng/kg đối với loại A, trong khi sầu Chuồng Bò loại A ở mức 70.000 đến 80.000 đồng/kg.
Cao su chịu áp lực giảm giá trên toàn cầu
Thị trường cao su thế giới khép lại tuần giao dịch trong sắc đỏ do lo ngại lạm phát toàn cầu khiến lãi suất neo cao, làm giảm tâm lý đầu tư hàng hóa.
Sàn Tocom, SHFE và SGX đồng loạt giảm. Hợp đồng tháng 5/2026 tại Thái Lan giảm về 80,1 Baht/kg; tại Nhật Bản giảm còn 381,5 Yên/kg.
Sàn Singapore ghi nhận hợp đồng TSR20 giảm 1,6% xuống 202,4 UScent/kg. Sàn Thượng Hải (SHFE) chứng kiến giá cao su kỳ hạn tháng 9 giảm xuống 16.815 Nhân dân tệ/tấn.
Trong nước, giá thu mua ngày 14/4 tại Công ty Cao su Phú Riềng điều chỉnh giảm, mủ nước hiện ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.
Tại Công ty Mang Yang, mủ nước loại 1 duy trì 463 đồng/TSC/kg, mủ đông tạp loại 1 là 459 đồng/kg.
Công ty Bà Rịa thu mua mủ nước mức 1 với giá 452 đồng/độ TSC/kg, trong khi Bình Long mua tại nhà máy với giá 432 đồng/độ TSC/kg.
Giá heo hơi miền Nam đón tin vui
Sau nhiều ngày đi ngang, thị trường heo hơi ngày 12/4 bắt đầu ghi nhận những nhịp điều chỉnh trái chiều, dao động phổ biến từ 62.000 đến 69.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá giảm khoảng 1.000 đồng/kg tại Thái Nguyên, Ninh Bình và Phú Thọ do nguồn cung nhích lên nhưng sức mua chưa bứt phá. Mặt bằng giá chung khu vực này từ 63.000 đến 65.000 đồng/kg. Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh cùng nhóm dẫn đầu với 65.000 đồng/kg, trong khi Lai Châu thấp nhất với 63.000 đồng/kg.
Khu vực miền Trung và Tây Nguyên chịu áp lực giảm rõ nét hơn từ 1.000 đến 2.000 đồng/kg. Gia Lai và Hà Tĩnh giảm mạnh về đáy 62.000 đồng/kg. Tuy nhiên, Lâm Đồng và Đắk Lắk vẫn neo cao, lần lượt đạt 68.000 đồng/kg và 67.000 đồng/kg.
Điểm sáng thuộc về khu vực miền Nam khi giá nhích nhẹ nhờ nhu cầu ổn định tại các đô thị lớn. Vĩnh Long tăng 1.000 đồng/kg lên mức 68.000 đồng/kg. Đồng Nai và TP.HCM tiếp tục là hai đầu tàu với mức giá đỉnh 69.000 đồng/kg. Các địa phương khác như Tây Ninh, Đồng Tháp đạt 68.000 đồng/kg, thấp nhất là An Giang và Cần Thơ neo ở 66.000 đồng/kg.

