Giá cả

Giá cả nông sản

Thị trường nông sản 11/4: Hồ tiêu tăng giá, sầu riêng và cà phê quay đầu giảm

HẢI ĐÔNG 11/04/2026 08:48

Trong khi thị trường lúa gạo và heo hơi ngày 11/4/2026 duy trì mức giá bình ổn, giá hồ tiêu ghi nhận đà tăng nhẹ trước thềm kết thúc vụ thu hoạch. Ngược lại, sầu riêng Ri6 và cà phê trong nước lại đối mặt với xu hướng giảm giá.

thi-truong-nong-san-ngay-11042026.jpg
Thị trường nông sản ngày 11/4/026 ghi nhận hồ tiêu tăng giá, sầu riêng và cà phê quay đầu giảm.

Thị trường cà phê đảo chiều giảm nhẹ

Mở cửa phiên giao dịch sáng 11/4, thị trường cà phê trong nước quay đầu giảm 300 đến 400 đồng/kg sau nhiều ngày đi ngang.

Tại vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên, giá thu mua phổ biến dao động từ 85.000 đến 85.500 đồng/kg. Đắk Lắk hiện thu mua ở mức cao nhất cả nước là 85.500 đồng/kg sau khi giảm 300 đồng/kg.

Tỉnh Gia Lai giảm 400 đồng/kg xuống còn 85.400 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục là địa phương giao dịch thấp nhất khu vực tại mốc 85.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, các sàn giao dịch lớn có sự biến động trái chiều. Tại London, hợp đồng Robusta giao tháng 5/2026 tiếp tục giảm 16 USD/tấn xuống mức 3.294 USD/tấn, kỳ hạn tháng 1/2027 cũng giảm 1 USD/tấn còn 3.084 USD/tấn.

Ngược lại, trên sàn New York, Arabica phục hồi nhẹ khi hợp đồng giao tháng 5/2026 tăng 4 cent/lb lên 297,7 cent/lb. Đáng chú ý, sàn Brazil ghi nhận Arabica tháng 5/2026 đảo chiều tăng mạnh 4,25 cent/lb đạt 394,50 cent/lb.

Giá hồ tiêu tiệm cận mốc 140.000 đồng/kg

Trái ngược với cà phê, giá hồ tiêu ngày 11/4 phát đi tín hiệu tích cực khi đồng loạt tăng 500 đồng/kg tại nhiều địa phương, dao động trong khoảng 138.500 đến 139.500 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Lắk tiếp tục dẫn đầu cả nước với 139.500 đồng/kg. Tỉnh Lâm Đồng thu mua ở mức 139.000 đồng/kg, còn Gia Lai, Đồng Nai và TP .HCM cùng đạt 138.500 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế ghi nhận giá tiêu đen Lampung của Indonesia giảm 13 USD/tấn xuống mức 7.074 USD/tấn, tiêu trắng Muntok giảm 17 USD/tấn còn 9.320 USD/tấn. Các quốc gia khác gần như đi ngang.

Brazil giữ nguyên mức 6.150 USD/tấn, Malaysia duy trì tiêu đen 9.300 USD/tấn và tiêu trắng 12.200 USD/tấn. Giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam duy trì ổn định với tiêu đen loại 500 gr/l ở mức 6.100 USD/tấn, loại 550 gr/l đạt 6.200 USD/tấn và tiêu trắng xuất khẩu chốt mức 9.000 USD/tấn.

Lúa gạo trong nước vững giá, xuất khẩu tăng mạnh

Thị trường lúa gạo nội địa khu vực ĐBSCL ngày 11/4 diễn biến êm ả với giao dịch mua bán chậm và giá vững.

Cập nhật từ Sở NN-MT tỉnh An Giang cho thấy, gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 8.100 đến 8.200 đồng/kg, OM 5451 từ 8.650 đến 8.750 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg và IR 504 đạt 8.000 đến 8.100 đồng/kg.

Đối với lúa tươi, giống OM 18 và Đài Thơm 8 cùng mức 5.800 đến 6.100 đồng/kg, IR 50404 dao động 5.400 đến 5.600 đồng/kg.

Điểm sáng của thị trường lúa gạo đến từ mảng xuất khẩu khi giá chào bán của Việt Nam tăng mạnh.

Gạo thơm 5% tấm tăng 15 USD/tấn lên mức 440 đến 445 USD/tấn. Gạo 100% tấm đạt 333 đến 337 USD/tấn sau khi tăng 3 USD/tấn, và gạo Jasmine tăng 5 USD/tấn lên 452 đến 456 USD/tấn.

Các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan và Ấn Độ cũng ghi nhận giá gạo nhích nhẹ khoảng 1 đến 3 USD/tấn.

Sầu riêng phân hóa sâu sắc, Ri6 giảm giá mạnh

Bức tranh thị trường sầu riêng ngày 11/4 có sự phân hóa rõ nét giữa các chủng loại.

Tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Ri6 sụt giảm mạnh 15.000 đến 20.000 đồng/kg so với hôm qua. Cụ thể, Ri6 loại A hiện thu mua ở mức 80.000 đến 86.000 đồng/kg, loại B từ 65.000 đến 70.000 đồng/kg, loại C dao động 45.000 đến 55.000 đồng/kg, và hàng C đến D chỉ còn 30.000 đến 40.000 đồng/kg.

Đối với sầu riêng Thái, dòng VIP loại A giảm 5.000 đồng/kg, giao dịch ở mức 155.000 đến 165.000 đồng/kg. Loại B và C lần lượt đạt 125.000 đến 135.000 đồng/kg và 95.000 đến 110.000 đồng/kg.

Ở phân khúc cao cấp khác, sầu riêng Musang King vẫn neo giá rất cao, loại A đạt 133.000 đến 145.000 đồng/kg tùy kho, loại B từ 105.000 đến 120.000 đồng/kg. Sầu riêng Chuồng Bò loại A có giá 65.000 đến 75.000 đồng/kg.

Cao su thế giới đồng loạt trượt giá

Trên thị trường quốc tế, giá cao su tự nhiên ngày 11/4 chịu áp lực giảm bao trùm ba sàn giao dịch lớn của châu Á.

Sàn Tocom Nhật Bản ghi nhận các hợp đồng kỳ hạn giảm từ 0,9 đến 1,16%, trong đó kỳ hạn tháng 4/2026 lùi về 379,40 JPY/kg.

Sàn Thượng Hải chứng kiến mức giảm sâu hơn, hợp đồng tháng 6/2026 bốc hơi 1,94% xuống còn 16.655 CNY/tấn.

Sàn Singapore giảm nhẹ với kỳ hạn TSR20 tháng 5/2026 lùi 0,73% về mức 201,50 Cent/kg.

Dù thị trường thế giới biến động, giá mủ cao su trong nước vẫn ổn định. Công ty Cao su Mang Yang mua mủ nước loại 1 giá 463 đồng/TSC/kg, mủ đông tạp loại 1 giá 459 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng thu mua mủ nước 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp 390 đồng/DRC/kg. Tại Bà Rịa, mủ nước mức 1 áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên có giá 452 đồng/độ TSC/kg, mủ tạp có độ DRC từ 50% trở lên đạt 18.000 đồng/kg.

Công ty Bình Long thu mua mủ nước tại nhà máy giá 432 đồng/độ TSC/kg và mủ tạp độ DRC 60% với giá 14.000 đồng/kg.

Heo hơi, cung cầu cân bằng

Giá heo hơi ngày 11/4 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định trên diện rộng, dao động trong biên độ 63.000 đến 69.000 đồng/kg. Sự đi ngang kéo dài ở cả ba miền cho thấy nguồn cung và nhu cầu tiêu thụ đang tạm thời cân bằng.

Khu vực miền Bắc không ghi nhận sự điều chỉnh, giá neo ở mức 63.000 đến 65.000 đồng/kg. Lai Châu có mức giá thấp nhất vùng, trong khi Hà Nội, Hải Phòng và hàng loạt tỉnh thành khác giữ đỉnh 65.000 đồng/kg.

Tại miền Trung và Tây Nguyên, giá dao động từ 63.000 đến 68.000 đồng/kg với Lâm Đồng dẫn đầu ở mức 68.000 đồng/kg và Hà Tĩnh thấp nhất tại mốc 63.000 đồng/kg.

Khu vực miền Nam tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu cả nước khi Đồng Nai và TP.HCM chốt ở mức 69.000 đồng/kg, Tây Ninh và Đồng Tháp đạt 68.000 đồng/kg, các tỉnh còn lại phổ biến từ 66.000 đến 67.000 đồng/kg.

HẢI ĐÔNG