Giá cả

Giá cả nông sản

Thị trường nông sản 2/4: Cà phê, sầu riêng quay đầu tăng, hồ tiêu và heo hơi giảm giá

HẢI ĐÔNG 02/04/2026 07:30

Sáng 2/4/2026, giá cà phê Tây Nguyên tiến sát mốc 90.000 đồng/kg, sầu riêng tiếp tục chuỗi ngày tăng nóng tại các kho thu mua. Ở chiều ngược lại, hồ tiêu mất giá trên diện rộng, trong khi lúa gạo và cao su ghi nhận những tín hiệu giao dịch tích cực đan xen.

thi-truong-nong-san-ngay-02042026.jpg
Thị trường nông sản ngày 2/4/2026.

Cà phê phục hồi ngoạn mục

Thị trường cà phê nội địa sáng nay ghi nhận sự phục hồi rõ rệt sau giai đoạn chịu áp lực bán mạnh. Giá thu mua tại khu vực Tây Nguyên tăng 1.700 đến 1.800 đồng/kg, đưa mặt bằng chung dao động trong khoảng 88.700 đến 89.500 đồng/kg.

Cụ thể, khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) tăng mạnh nhất 1.800 đồng/kg, vươn lên mức 89.500 đồng/kg, cao nhất khu vực. Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 1.700 đồng/kg, đạt 89.200 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, đà tăng đánh dấu sự đảo chiều đáng chú ý. Giá robusta hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn London tăng 2,16% lên mức 3.493 USD/tấn, hợp đồng tháng 7/2026 đạt 3.405 USD/tấn.

Giá arabica trên sàn New York giao tháng 5/2026 tăng 1,98% lên 298,35 US cent/pound, trong khi hợp đồng tháng 7/2026 đạt 290,8 US cent/pound.

Hồ tiêu lao dốc tại thị trường nội địa và xuất khẩu

Trái ngược với cà phê, giá tiêu trong nước đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg tại các vùng sản xuất trọng điểm. Mặt bằng giá hiện lùi về ngưỡng 138.000 đến 139.000 đồng/kg.

Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) lùi về mức 139.000 đồng/kg nhưng vẫn dẫn đầu thị trường. Bà Rịa Vũng Tàu hiện thu mua ở mức 138.500 đồng/kg, còn Gia Lai và Đồng Nai chạm mức thấp nhất là 138.000 đồng/kg.

Thị trường quốc tế ghi nhận sự phân hóa khi giá tiêu đen Indonesia tăng 117 USD/tấn lên mức 7.122 USD/tấn, tiêu trắng tăng 108 USD/tấn lên 9.382 USD/tấn.

Ngược lại, tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh 300 USD/tấn xuống còn 6.000 đến 6.100 USD/tấn, tiêu trắng giảm 150 USD/tấn xuống còn 8.900 USD/tấn.

Giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil đi ngang ở mức 6.100 USD/tấn, trong khi Malaysia duy trì mức 9.300 USD/tấn với tiêu đen và 12.200 USD/tấn với tiêu trắng.

Sầu riêng tiếp đà tăng nóng

Giá thu mua sầu riêng tại các kho tiếp tục điều chỉnh tăng. Sầu riêng Ri6 loại A khu vực ĐBSCL đang dao động mức 90.000 đến 110.000 đồng/kg, tăng từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg so với hôm qua.

Các loại Ri6 khác cũng giữ mức tốt với loại B từ 75.000 đến 95.000 đồng/kg, loại C từ 60.000 đến 65.000 đồng/kg, loại C D từ 40.000 đến 55.000 đồng/kg và hàng lỗi mức 65.000 đồng/kg.

Đối với sầu riêng Thái, hàng VIP loại A dao động 160.000 đến 165.000 đồng/kg, VIP loại B dao động 140.000 đến 145.000 đồng/kg.

Sầu Thái loại A phổ biến mức 120.000 đồng/kg, loại B dao động 88.000 đến 100.000 đồng/kg, loại C dao động 70.000 đến 85.000 đồng/kg.

Phân khúc sầu Thái dạt và C D thu mua quanh mức 55.000 đến 70.000 đồng/kg, sầu lỗi từ 95.000 đến 105.000 đồng/kg.

Các dòng cao cấp như Musang King loại A đạt 130.000 đến 140.000 đồng/kg, trong khi sầu Chuồng Bò loại A ở mức 85.000 đến 95.000 đồng/kg.

Lúa gạo khởi sắc, giá bán lẻ bình ổn

Khu vực ĐBSCL ghi nhận giao dịch mua bán khởi sắc. Giá lúa tươi Đài Thơm 8 tăng 50 đồng/kg lên 5.600 đến 5.750 đồng/kg. Các mặt hàng khác giữ ổn định với OM 18 từ 5.600 đến 5.750 đồng/kg, IR 50404 từ 5.200 đến 5.300 đồng/kg, OM 5451 từ 5.400 đến 5.500 đồng/kg, và OM 34 ở mức 5.100 đến 5.200 đồng/kg.

Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu biến động nhẹ với gạo Đài Thơm 8 dao động 9.200 đến 9.400 đồng/kg, OM 18 từ 8.900 đến 9.100 đồng/kg, OM 5451 từ 8.350 đến 8.450 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm IR 504 phổ biến từ 9.500 đến 9.700 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, gạo 5% tấm của Việt Nam đang chào bán mức 400 đến 415 USD/tấn, cạnh tranh sát nút với mức 381 đến 385 USD/tấn của Thái Lan và 351 đến 355 USD/tấn của Ấn Độ.

Gạo 100% tấm Việt Nam dao động 316 đến 320 USD/tấn, cao hơn mức 304 đến 308 USD/tấn của Ấn Độ nhưng thấp hơn mức 363 đến 367 USD/tấn của Thái Lan. Gạo thơm Jasmine Việt Nam xuất khẩu ổn định mức 430 đến 434 USD/tấn.

Cao su nội địa giữ giá, thế giới phân hóa

Trong nước, giá thu mua mủ cao su duy trì bình ổn. Công ty Cao su Phú Riềng mua mủ nước mức 440 đồng/TSC/kg và mủ tạp 400 đồng/DRC/kg. Công ty Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 giá 463 đồng/TSC/kg, loại 2 giá 458 đồng/TSC/kg.

Tại Bình Long, giá thu mua mủ nước tại nhà máy là 432 đồng/TSC/kg. Công ty Bà Rịa linh hoạt áp dụng mức 452 đồng/TSC/kg cho độ TSC trên 30, và 18.000 đồng/kg cho mủ chén có độ DRC trên 50%.

Trên thị trường quốc tế, Nhật Bản và Singapore đồng loạt tăng giá, với hợp đồng tháng 6 trên sàn Tocom đạt 375,50 JPY/kg, hợp đồng tháng 5 sàn SGX vươn lên 200,10 Cent/kg. Tuy nhiên, sàn Thượng Hải phân hóa khi hợp đồng giao tháng 4 tăng lên 16.635 CNY/tấn, nhưng các kỳ hạn từ tháng 5 đến tháng 8 lại đồng loạt giảm nhẹ.

Heo hơi biến động trái chiều trên cả nước

Thị trường heo hơi xuất hiện diễn biến đối lập giữa các vùng. Tại miền Bắc, tín hiệu tích cực trở lại khi Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình và Hưng Yên cùng tăng 1.000 đồng/kg. Hà Nội tiếp tục neo ở đỉnh 64.000 đồng/kg, các tỉnh còn lại phổ biến mức 62.000 đến 63.000 đồng/kg.

Miền Trung và Tây Nguyên phân hóa mạnh. Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh tăng 1.000 đồng/kg nhưng vẫn thuộc nhóm giá thấp, điển hình như Hà Tĩnh chỉ 61.000 đồng/kg. Ngược lại, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg. Mức giá cao nhất vùng thuộc về Lâm Đồng với 66.000 đồng/kg.

Khác với miền Bắc, thị trường miền Nam chìm trong sắc đỏ. Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg. Mặt bằng chung toàn vùng lùi về ngưỡng 65.000 đến 68.000 đồng/kg, trong đó An Giang, Cà Mau, Cần Thơ chạm đáy 65.000 đồng/kg, còn Đồng Nai và Tây Ninh tiếp tục dẫn đầu với 68.000 đồng/kg.

HẢI ĐÔNG