Cafe cùng NTV

Kỷ nguyên 'ăn sạch', hay thời của... hợp tác xã?

THÀNH ĐÔNG thực hiện 04/02/2025 06:00

Tết, luôn bắt đầu từ những bữa chợ ê hề rau củ, cá thịt. Từ trăm năm xưa đã thế. Chỉ khác, mấy mươi năm trước, ông bà ta chắc chẳng ngờ có ngày con cháu ra chợ phải tần ngần coi rau nào là rau… sạch, thịt nào là thịt an toàn. Một đất nước lớn lên từ vườn ruộng cây trái, đã phát triển nhiều lần nhưng khi “sực nhớ” về một miếng ngon đúng nghĩa thì… “cây cầu đã gãy”. Thực phẩm sạch mà trở thành xa xỉ thì những thành tựu khoa học, những bước tiến dài về kinh tế phải chăng đã đi lệch ra khỏi con đường khiến người ta hạnh phúc hơn. Mà nỗ lực không phải để hạnh phúc hơn, thì để làm gì?

Chuyện bữa ăn, nhưng cũng là chuyện kinh tế, quản trị, phát triển. Câu chuyện đã trở thành đề tài mạn đàm đầu xuân của TBT Tạp chí Nông thôn Việt Nguyễn Đức Quang với các ông Lương Minh Quyết – Nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng; ông Nguyễn Văn Mười - Ủy viên Ban thường vụ Hiệp hội Trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam; ông Lâm Ngọc Tuấn - Giám đốc HTX Nông nghiệp Tuấn Ngọc; ông Lê Châu Hải Vũ - Giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ Tư vấn Doanh nghiệp ConsulTech, Phó Giám đốc Trung tâm tín chỉ carbon Viện Công nghệ Xuất Nhập Asean.

Thiếu từ hạt giống thiếu đi…

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG: Thưa quý vị, rau sạch bây giờ trở thành xa xỉ phẩm, người có tiền chưa chắc đã mua được. Vậy, nói vui một chút thì người nông dân lại chính là những người… làm hàng xa xỉ. Thị trường rất cần sau sạch. Lẽ dĩ nhiên nếu được lựa chọn thì người nông dân cũng muốn trồng rau sạch. Nhưng nay hiếm người làm được. Người bán muốn bán, người mua muốn mua, nhưng không thể gặp được nhau. Dường như cách trở thị trường vẫn quá lớn?

Ông LƯƠNG MINH QUYẾT: Qua nhiều năm theo dõi, tôi thấy việc làm thực phẩm sạch là hoàn toàn có thể, nhưng do cơ chế thị trường tác động mạnh quá. Người nông dân và cả người kinh doanh chỉ mới nhìn thấy mặt kinh tế chứ không nhìn về hiệu quả về xã hội. Sau này Nhà nước đưa ra những quy trình như VietGAP, GlobalGAP, và tiêu chuẩn ASC của châu Âu, của Mỹ và Nhật Bản về Việt Nam. Ta bỏ ra hàng trăm tỷ thực hiện chương trình này, chương trình kia nhưng rồi không đánh giá tổng thể và nhân rộng các mô hình làm tốt, nên không có hiệu quả. Vậy là “đánh trống mà bỏ dùi”, làm rồi bỏ đó nên cũng không có tiền của đâu mà làm nổi…

Ông NGUYỄN VĂN MƯỜI: Cần nói thêm về giống. Hiện ta chưa làm tốt công tác quản lý giống. Nhiều đơn vị cung cấp giống chỉ đợi đến khi có đơn hàng thì mới đi gom mỗi nơi một ít để cung cấp… Vì thế, chất lượng giống ở mỗi nơi mỗi khác, và người trồng bị thiệt hại.

Tôi đi nhiều nước thì thấy rằng họ rất chú trọng trong vấn đề nghiên cứu và sản xuất, tạo ra nhiều giống năng suất, chất lượng rất cao. Chúng ta hiện sử dụng rất nhiều giống của Thái Lan, ví dụ như sầu riêng, mít, xoài, chôm chôm… Tôi cho rằng, để có nguồn thực phẩm sạch thì công tác nghiên cứu để tạo ra giống cũng là vấn đề cấp thiết.

Ông LÊ CHÂU HẢI VŨ: Theo tôi, cần giúp người nông dân hiểu rõ rằng sử dụng các chế phẩm độc hại không rõ nguồn gốc là hủy hoại sức khỏe người tiêu dùng và phá hoại kinh tế của đất nước. Nếu vi phạm, sẽ bị phạt nặng. Mặt khác, cần có sự công minh liêm chính của các cơ quan kiểm định. Nhà quản lý phải vì người tiêu dùng để không bị tác động từ nhà sản xuất.

Ông LÂM NGỌC TUẤN: Nói về vai trò của nhà nước, ta có thể cân nhắc các chính sách hỗ trợ người làm đúng - ở đây là những người tuân thủ quy trình sản xuất thực phẩm sạch. Ta có thể miễn giảm thuế, hỗ trợ vốn, kiểm soát vật tư nông nghiệp, và hỗ trợ người dân/doanh nghiệp tham gia các chương trình quốc tế để học hỏi kinh nghiệm, mở rộng xuất khẩu. Làm sao để người làm đúng được thuận lợi hơn, có điều kiện để phát triển hơn; tránh việc “ai cũng như ai”, người đúng cũng như người sai, cào bằng trong chính sách và lẫn lộn chất lượng sản phẩm, thì cái tốt mới được nhân lên.

Về tiêu thụ, cần khuyến khích xây dựng thương hiệu gắn liền với các chứng nhận uy tín như VietGAP, GlobalGAP và mở rộng kênh bán hàng trực tuyến.

Một xã một… chợ nông sản

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG:Việt Nam có một nền ẩm thực xuất chúng vì người Việt rất chú trọng bữa ăn. Gốc gác nông nghiệp lại khiến chúng ta có quán tính “truy nguyên” nguồn gốc thực phẩm. Nhưng cũng có một thực tế là, chỉ có 20% người có thu nhập cao trong nước sẵn sàng bỏ tiền ra mua nông sản sạch. Tỉ lệ khá thấp này thể hiện niềm tin của người tiêu dùng với những điều gắn mác “sạch”.

Người tiêu dùng vì không tin mà không mua, thực phẩm sạch không có đầu ra nên cũng khó phát triển. Ta có thể làm gì để chấm dứt cơ chế cung – cầu tự phát và yếu ớt này?

Ông NGUYỄN VĂN MƯỜI: Ta có công nghệ nên việc truy xuất nguồn gốc hoàn toàn không khó thực hiện, để có thể bảo chứng cho sản phẩm sạch, và làm chỉ dấu tin cậy cho người tiêu dùng chọn mua. Từ năm 2019, Chính phủ cũng đã có Quyết định số 100/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc”. Tuy nhiên, mọi chuyện vẫn vậy, vì ta chưa có quy định bắt buộc người sản xuất phải thực hiện việc truy xuất nguồn gốc.

Ông LÊ CHÂU HẢI VŨ: Bên cạnh việc thực hiện truy xuất nguồn gốc, theo tôi, việc tổ chức test nhanh tại các chợ đầu mối nông sản là một phương án khá “lợi hại”. Cơ quan chức năng phải nghiêm khắc ở ngay khâu tiêu thụ, để buộc người bán phải bán hàng đạt chuẩn. Từ đó, họ tạo áp lực xuống chuỗi cung ứng; nhà cung cấp, và người nuôi trồng cũng buộc phải tuân thủ mới bán được hàng. Có như vậy, mọi thứ mới có thể thay đổi.

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG: Ở Đài Loan, mỗi 1 xã, trấn có 1 chợ tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm được làm ra ở xã, trấn nào thì phải đưa vào “chợ đầu mối ở đó để đấu giá, không có chuyện thương lái chạy xuống vườn để tự mua từ nông dân. Tất cả qui trình sản xuất, thu hoạch phải báo với hội ở đó. Đó chính là cơ sở đầu tiên để sản phẩm sạch đi vào thị trường, chứ không phải chợ đầu mối lớn. Còn ở ta, thực phẩm một bước từ vườn ra thẳng chợ đầu mối. “Quy trình” này làm sao kiểm soát?

Ông LƯƠNG MINH QUYẾT: Bây giờ các nước phát triển họ đều làm vậy. Còn ở Việt Nam, tôi cho rằng phải chờ thêm, chứ bây giờ thì chưa thể làm được theo hướng này.

Hiện nay, nên hình thành một số điểm để tập kết nông sản tại ĐBSCL - nơi sản xuất và cung cấp nông sản lớn của cả nước. Nơi đó phải có sự phối hợp giữa doanh nghiệp thu mua và các hợp tác xã, có ràng buộc trách nhiệm mỗi bên. Tất cả phải trở thành một chuỗi thì mới được. Chứ bây giờ, tỉnh, huyện nào cũng có chợ đầu mối, sẽ làm ảnh hưởng tới vấn đề phát triển chung trong tương lai.

Ông NGUYỄN VĂN MƯỜI: Ở Hàn Quốc hay Nhật Bản, trước khi thu hoạch, đại diện nông dân, doanh nghiệp và ban quản lý chợ đầu mối ngồi lại với nhau để thống nhất về giá. Dù tăng hay giảm giá, người đại diện cho nông dân phải giải thích lý do, và nếu hợp lý, đảm bảo lợi ích hài hoà giữa các bên thì được thông qua. Có thể nói, chính việc này đã làm minh bạch hóa quá trình sản xuất và tiêu thụ.

Còn ở ta hiện nay, sản xuất và kinh doanh mang tính cơ hội, tức là cơ hội tới ai người đó tận dụng, dẫn tới giá cả không ổn định, gây khó khăn cho người làm thương mại và người tiêu dùng. Ta không khuyến khích được việc phát triển sản phẩm sạch vì chính sách mua hàng vẫn không có phân biệt rõ ràng. Giá thành giữa sản xuất theo quy trình sạch và sản xuất tự do không chênh lệch bao nhiêu, nên khó khuyến khích người dân đầu tư và phát triển nông nghiệp sạch.

Ông LÂM NGỌC TUẤN: Tôi nghĩ mô hình kiểu Đài Loan là giải pháp khả thi để quản lý chất lượng nông sản tại nguồn, để đưa sản phẩm sạch và minh bạch vào thị trường. Các chợ đầu mối nhỏ ở mỗi xã sẽ được đầu tư cơ sở hạ tầng như khu kiểm định, kho bảo quản và sàn đấu giá... Nơi này sẽ thu gom, kiểm định và đấu giá nông sản trước khi phân phối.

Nhà nước sẽ đóng vai trò hỗ trợ tài chính, chính sách, hạ tầng và thiết bị kiểm định, thành lập cơ quan giám sát độc lập để đảm bảo minh bạch

Quyền năng của hợp tác xã

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG: Ở từng địa phương, ta đều có các hợp tác xã và các hội nghề nghiệp. Nên chăng sử dụng chính các đơn vị này, giao quyền cho họ để thực hiện việc kiểm soát nông sản tại nguồn?

Thử hình dung, khi đó, nông dân muốn vào HTX, hội, thì phải tuân thủ các quy định về sản xuất, phải có nhật ký sản xuất. Nếu họ vi phạm thì sản phẩm sẽ không được đưa ra thị trường. Ra chợ, mọi thứ cũng phải rõ ràng về nguồn gốc, chủ sản xuất, thời gian, có đủ thì cho đấu giá. “Tấm căn cước” này sẽ hiển thị rõ ở chợ, siêu thị. Người tiêu dùng, nếu nghi ngờ, sẽ truy xuất được ngay, cho nên họ sẽ yên tâm. Thêm vào đó, ta sẽ kiểm soát được nguồn cung. Bộ, ngành không ôm đồm nữa, mà chỉ định hướng quy hoạch, khung pháp lý, hỗ trợ thị trường…

Ông LƯƠNG MINH QUYẾT: Nếu chúng ta làm được như vậy thì tôi nghĩ là quá tốt. Bởi vì quyền lợi và trách nhiệm được gắn với nhau, nhà nước chỉ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.

Trước mắt, ngoài liên kết giữa doanh nghiệp thu mua và doanh nghiệp sản xuất, Nhà nước phải thường xuyên kết nối để hai bên có trách nhiệm với nhau trong việc bảo đảm các tiêu chuẩn trong sản xuất và kinh doanh.

Một giải pháp căn cơ là dùng các tập đoàn mạnh để dẫn dắt, tạo động lực phát triển. Tập đoàn mạnh sẽ hỗ trợ cho những đơn vị nhỏ. Như vậy, sẽ triệt tiêu được những người sản xuất không đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn.

Ông LÂM NGỌC TUẤN: Nếu HTX và hội nghề nghiệp được giao quyền hoạt động thực chất trong vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm thì sẽ giảm gánh nặng cho Nhà nước, khuyến khích sự tham gia của nông dân.

Nhưng, để triển khai thành công, ngoài việc thiết lập qui chế, qui chuẩn, áp dụng công nghệ, thì cần có hệ thống kiểm soát chất lượng đa tầng với đội ngũ kiểm tra nội bộ và kiểm soát độc lập từ bên ngoài. Đồng thời, cần có các trung tâm kiểm định nhanh tại điểm bán như các chợ đầu mối và siêu thị.

Ngoài ra, cơ chế xử phạt phải đủ nghiêm, có thể đình chỉ hoặc loại bỏ thành viên vi phạm, công khai danh sách vi phạm. Có thể đặt quỹ bảo hiểm chất lượng tại HTX để bồi thường cho người tiêu dùng khi phát hiện sản phẩm kém chất lượng.

Liên kết chuỗi giá trị khép kín là yếu tố then chốt. Nhà nước cần hỗ trợ về tài chính, pháp lý, và thành lập cơ quan giám sát độc lập để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả; đẩy mạnh truyền thông nhằm tạo niềm tin vào mô hình này.

Ông LÊ CHÂU HẢI VŨ: Đúng là nên giao cho HTX tự quản trước khi các cơ quan chức năng kiểm soát. HTX sẽ tự quản lý và chịu trách nhiệm cho thương hiệu của mình. Các phần mềm truy xuất nguồn gốc sẽ… “truy xuất trách nhiệm” của từng HTX. HTX buộc phải hoạt động thực chất hơn mà cũng… quyền năng hơn.

Ông NGUYỄN VĂN MƯỜI: Ta có thể bồi đắp ý tưởng này bằng thực tế ngay tại Thái Lan. Hiệp hội sầu riêng của Thái Lan có quyền đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề. Những người hành nghề thu hoạch sầu riêng phải qua một quá trình đào tạo và khi đạt điều kiện thì mới được cấp chứng chỉ hành nghề. Còn ở Việt Nam, ta bỏ trống chuyện này…

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG: Nói đến đây thì câu chuyện ăn sạch cũng không đến nỗi… xa xỉ. Những nguồn lực gần như đều có sẵn. Chiếc cầu để về lại nguồn thực phẩm ngon - lành của người Việt còn đó. Ta có thể hy vọng những tiếng nói hôm nay được cấp có thẩm quyền lắng nghe, thấu hiểu. Năm mới an lành và may mắn, đó là ao ước của bao người, vậy nếu có lời chúc cho nông sản Việt trong năm 2025, quý vị sẽ nói gì?

Ông LƯƠNG MINH QUYẾT: Nhân dịp đầu năm mới 2025, chúc cho Ngành nông nghiệp luôn cất cánh cùng kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đồng thời đảm bảo tốt về an ninh lương thực quốc gia. Nông dân sản xuất được nhiều sản phẩm ngon, sạch để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng.

Ông NGUYỄN VĂN MƯỜI: Năm 2025, tôi hy vọng nông sản của Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng và bay xa. Chúc cho những người sản xuất, doanh nghiệp và ngành nông nghiệp tiếp tục có một năm thắng lợi và đạt nhiều thành tích vượt bậc.

Ông LÊ CHÂU HẢI VŨ: Chúc cho nông sản Việt luôn được mùa, được giá và lấy lại được lòng tin yêu của người tiêu dùng trong nước.

Ông LÂM NGỌC TUẤN: Mong rằng năm 2025 sẽ là năm của những bữa ăn ngon lành, sạch sẽ và vừa túi tiền cho tất cả mọi người. Chúc cho tất cả các nông sản làm ra từ nông trại đến bàn ăn đều tràn ngập sự minh bạch, sự tận tâm của người sản xuất, và niềm tin từ người tiêu dùng. Mong rằng chúng ta sẽ cùng xây dựng một nền nông nghiệp xanh, bền vững, nơi mà mỗi món ăn không chỉ ngon miệng mà còn an toàn, lành mạnh và đầy giá trị dinh dưỡng.

Đây không chỉ là một ước mơ mà là một hành trình chúng ta có thể thực hiện cùng nhau, vì sức khỏe và hạnh phúc của mỗi người tiêu dùng Việt Nam.

Ông NGUYỄN ĐỨC QUANG: Xin cảm ơn quý vị.

Widget "“Kỷ nguyên” ăn sạch"

THÀNH ĐÔNG thực hiện