Nam dược
Dược liệu và những người trẻ đọc mật mã rừng
Có một thời, rừng là nơi người miền núi bước vào để mưu sinh, rồi rời đi. Nhưng hôm nay, ngày càng nhiều người chọn ở lại với rừng. Dưới những tán lá cao ngất Trường Sơn đã hiện ra bao con đường mới đầy mê hoặc, lan tỏa, mà người mở đường lại là người trẻ.

Người sinh ra “của để dành”
Sương mai giăng phủ. Từ trên cao nhìn xuống, thôn Achoong (xã Hùng Sơn, thành phố Đà Nẵng) lọt giữa thung núi giáp biên giới Việt Nam - Lào. Bốn phía là rừng, sừng sững như tấm lưới xanh khổng lồ, che chở cả làng người Cơ Tu.
Alăng Lơ - Trưởng thôn Achoong đón chúng tôi tại bìa rừng, nơi sát hàng quán duy nhất người Cơ Tu có thể nhập bán sản vật sau mỗi mùa thu hoạch. Anh chỉ tay về phía vườn đảng sâm dưới tán rừng già, nói rằng chừng hơn mười năm trước, nơi này vẫn là rẫy bắp và sắn, khiến cuộc sống người dân cơ cực, bấp bênh theo mùa giáp hạt. Hồi đó Alăng Lơ từng nuôi ước mơ làm khoa học, góp điều gì đó lớn hơn cho cộng đồng. Nhưng tiền học không đủ, anh đành từ bỏ giảng đường đại học, quyết định trở về làng. “Không phải quay đầu vì bỏ cuộc, mà vì nơi này mới là nơi cần mình nhất”, Alăng Lơ giãi bày.

Về làng, Alăng Lơ bắt tay vào công việc chuyển trồng bắp sang trồng đảng sâm. Kiến thức giảng đường giúp anh thay đổi tư duy. Nhưng, khi vừa bắt đầu, chẳng một ai ở làng Achoong tin vào chuyện trồng đảng sâm dưới tán rừng như anh đề xuất. Người già gật đầu cho qua chuyện, thanh niên thì lắc đầu ái ngại “trồng sắn còn có ăn, chứ trồng thứ đó, không ai mua thì mình để làm gì?”.

Anh không bỏ cuộc mà lấy chính gia đình mình làm thử nghiệm, góp vốn, bứng giống, chọn đất, trồng xen dưới những tán rừng thân quen. Những củ sâm đầu tiên lớn chậm, mùa thu hoạch đầu tiên gần như thất bại do thời tiết. Vậy là phải sửa sai. Anh động viên gia đình cùng khắc phục và chọn cách thử nghiệm canh tác mới. Không lâu sau, rừng già đã đáp lại công sức. Những rẫy đảng sâm lần lượt xanh mướt, củ to bằng nửa bắp tay, hứa hẹn sản phẩm cho ngày thu hoạch.
Cả làng nhìn anh, trầm trồ lẫn xấu hổ. Nhưng anh không làm cho riêng mình. Từ sự động viên của anh, chỉ thời gian ngắn, cả làng Achoong thay đổi tư duy canh tác, theo Alăng Lơ chuyển đổi mô hình vườn trồng. Từ vài hộ ban đầu, bây giờ đã có hàng chục gia đình cùng kết nối thành lập hợp tác xã nông nghiệp. Cái nghèo từ đó cũng xa dần, rồi tư duy làm ăn thị trường - chuyện chưa hề có bao giờ, đã xuất hiện. Họ học theo anh. “Người Cơ Tu vốn quen sống tự cung tự cấp, giờ phải học cách liên kết, phân loại và tìm đầu ra cho sản phẩm. Đảng sâm bây giờ không còn là củ thuốc chữa bệnh ở nhà, mà trở thành thứ ‘của để dành’, là giá trị kinh tế đáng kể cho mỗi gia đình”, Alăng Lơ chia sẻ.

Chúng tôi theo Alăng Lơ đi dọc theo những luống sâm. Gió núi thoảng, mùi thảo mộc ngọt dịu. Ở một góc rừng, mấy thanh niên Cơ Tu đang thu hái sâm. Tiếng cười nói râm ran xen lẫn những câu chuyện về đơn hàng mới, về việc liên kết với doanh nghiệp. Phía bên kia sườn đồi, những đọt cây xanh mơn mởn, gửi thông điệp âm thầm mang hy vọng thêm mùa no ấm.
Ông Zơrâm Buôn - Chủ tịch UBND xã Hùng Sơn nói, nếu không có Alăng Lơ, đảng sâm khó có thể hiện diện như một loài dược liệu quý, giá trị kinh tế cao như hôm nay. Mô hình trồng sâm theo cách Alăng Lơ kết nối cộng đồng trở thành “điểm tựa” giúp người dân đổi đời từ rừng, đặc biệt là hành trình thay đổi tư duy phát triển mới… “Giấc mơ dược liệu của Alăng Lơ đã thành hiện thực, giúp cộng đồng Cơ Tu đổi đời, có thêm hướng phát triển mới từ sản vật núi rừng”, ông Zơrâm Buôn nói.

Kiên trì “dán keo” cho rừng
Xã Nam Trà My là nơi được mệnh danh như “chợ đầu mối” cho sâm Ngọc Linh - cây “thuốc giấu” của người Xê Đăng. Lên đây mà hỏi thì ai cũng biết Hồ Thị Mười, Giám đốc Hợp tác xã cộng đồng Ngọc Linh.
Để có cái “mác” giám đốc như bây giờ, với chị, không phải là chuyện trên trời rơi xuống. Hàng chục năm trước, cô gái người Ca Dong đã làm một việc mà hiếm ai dám làm: liên kết với 15 hộ dân tại xã Trà Linh tham gia thành viên, cùng 19 nhóm hộ liên kết cung ứng sản phẩm sâm Ngọc Linh và dược liệu theo hợp đồng!

Quả là “sét đánh, rừng động”, khi mà với nhiều người, việc trồng sâm chỉ là chuyện làm ăn nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, rủi ro cao và dễ bị thương lái chi phối. “Tôi luôn nghĩ nếu cứ trồng và bán, thì sao khá nổi! Không có sự liên kết, nếu mỗi người giữ rừng theo một cách khác nhau, thì sâm Ngọc Linh dù quý đến mấy cũng khó mang lại sự bền vững cho cộng đồng. Ý tưởng thành lập hợp tác xã ra đời từ những trăn trở đó. Hiện chúng tôi tập trung phát triển vùng nguyên liệu với 10ha sâm Ngọc Linh được trồng dưới tán rừng”, chị nói. Người phụ nữ Ca Dong luôn tất bật này còn có riêng một cơ sở sản xuất, buôn bán sâm và dược liệu Ngọc Linh mang thương hiệu Mười Cường.

Nhưng, con đường dược liệu thành phẩm cũng gian nan không khác chi vào rừng. “Khởi nghiệp ở vùng cao là chấp nhận đi chậm hơn người khác, đường sá xa xôi, chi phí vận chuyển lớn; dược liệu Ngọc Linh dù quý hiếm vẫn đối mặt với rào cản chế biến sâu, thiếu kiến thức thị trường, thiếu niềm tin của người tiêu dùng. Làm sao để một sản phẩm vùng cao không chỉ “quý” mà còn “đáng tin”, không chỉ bán được mà còn nâng giá trị?”. Bao câu hỏi buốt nhức, như lời chị vừa nói, nào dễ trả lời, và để bây giờ hai sản phẩm chè dây túi lọc và trà giảo cổ lam đạt chứng nhận OCOP 3 sao, 10 dòng sản phẩm có khả năng thương mại hóa cao, đứng vững ở thị trường, là hành trình “vượt dốc, leo đèo”, mà cái dốc cao nhất là rào cản về nhận thức và tâm lý của bà con. Với đồng bào nơi này, sâm Ngọc Linh không chỉ là cây trồng kinh tế mà còn là tài sản tích lũy của mỗi gia đình, gắn chặt với nương rẫy và tập quán sản xuất nhỏ lẻ từ bao đời. Có người còn nói: Vào kinh tế tập thể, tôi không còn là chủ vườn sâm của mình! Chưa hết, bà con nhìn những hình thức liên kết sản xuất hoạt động nơi đây từng “đổ bể”, càng không tin. Và việc thống nhất quy trình trồng, bảo tồn nguồn gen, sơ chế, đóng gói và xây dựng thương hiệu chung cho sâm Ngọc Linh đều vượt quá thói quen sản xuất tự phát của người dân.
Giải bài toán này ra sao? “Tôi chỉ có một chữ: Kiên trì!” - chị nói - “vận động từng hộ, giải thích cặn kẽ từ cách tổ chức, cơ chế chia lợi ích đến nguyên tắc minh bạch trong thu mua, tiêu thụ, để bà con hiểu rằng hợp tác xã không lấy đi cái gì của mỗi nhà, mà giúp giá trị cây sâm được nâng lên. Còn riêng tôi thì kiên trì học hỏi kỹ thuật, kiên trì làm thật, kiên trì giữ chữ tín!”. Chính chất “keo” đi từ niềm tin mãnh liệt rằng sẽ thành công từ rừng ấy, đã khiến bà con nói “nó làm không đúng, nó bị thiệt nhiều chứ không phải mình”, nên họ dần xích lại với chị, để một ngày đẹp trời cái tên “Hợp tác xã cộng đồng Ngọc Linh” chính thức xướng lên, ra đời và phát triển đến hôm nay.

Lời chị kể về kinh tế cộng đồng mà nhẹ nhàng, thân ái. Tiền bạc, áo cơm từ đó. Ai đứng riêng ra, sẽ thấy thiệt thòi. Điều mới lạ chưa từng có chốn này từ bao đời, là những người phụ nữ trước đây chỉ quen lên rẫy, giờ học cách sơ chế, bảo quản, đóng gói sản phẩm. Họ học từ… kỳ tích của chị đó: Người phụ nữ Ca Dong đầu tiên đóng gói, chuẩn hóa các sản phẩm dược liệu bản địa từ sâm Ngọc Linh, giảo cổ lam, chè dây, nấm lim xanh đến sâm nam… để đưa ra thị trường!
Thanh niên trong làng không còn mải miết tìm đường rời núi, bởi ngay dưới tán rừng quê nhà đã có cơ hội mưu sinh tử tế. Quan trọng hơn nữa, người dân bắt đầu nhìn việc giữ rừng không còn là trách nhiệm bị áp đặt, mà là nhu cầu tự thân, bởi đó là nguồn sống của họ. Ông Trần Văn Mẫn - Chủ tịch UBND xã Nam Trà My nói, không dừng lại ở sản xuất, mô hình của Hồ Thị Mười đang mở ra một hướng đi mới, khai thác giá trị sâm Ngọc Linh gắn với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm. Bây giờ, du khách đến Nam Trà My và một số xã lân cận không chỉ để nghe kể về sâm nữa, mà sẽ được đi dưới tán rừng, tận mắt nhìn thấy cách người dân trồng, chăm sóc và gìn giữ từng gốc sâm như một phần máu thịt của núi. Điều đó, ngày trước chưa một người dân nào ở “thủ phủ” sâm Ngọc Linh hình dung ra được, nên tài nguyên du lịch bị bỏ ngỏ khá lâu.

Họ, những người trẻ có học, có chí, chưa từng ngoảnh mặt với rừng. Họ đọc ở đó những “mật mã” để rừng lên tiếng, nuôi những đứa con một đời yên ấm, mà nó có phải xa lạ, ghê gớm gì đâu ngoài việc dám làm phép thử, đổi thay, chấp nhận trả giá để hái quả ngọt rồi lan tỏa ra cộng đồng. Mở được nó, là rộng đường về tương lai, khi làm giàu không còn đồng nghĩa với rời đi và rừng cũng không còn là giới hạn của phát triển, mà là điểm khởi đầu cho một không gian sinh tồn bền vững. Đó không phải con đường trải nhựa, mà là con đường gập ghềnh lắm nẻo, của sự lựa chọn bền bỉ “cầm vàng không để vàng rơi”. Ở đó ngân vang một bài ca về tình yêu tha thiết của những đứa con khi nó thức tỉnh, rằng chưa bao giờ Mẹ Rừng ruồng bỏ con...