Người quê tôi
Duyên Việt - Đức và dặm dài gieo yêu thương của cô gái tuổi Ngựa
Những ngày về Việt Nam 2025 của Nguyễn Thị Thanh Thúy (Việt Kiều Đức) cùng gia đình nhỏ của chị là chuỗi ngày tất bật. Thế nhưng giống hai thành viên của gia đình mình, Thúy luôn nhoẻn cười tươi rói, bởi mỗi địa danh chị đi qua từ Phú Thọ, Hà Nội, Hải Dương, Huế, Gia Lai, Long Khánh hay TP.HCM đều có kỷ niệm cùng ý nghĩa riêng.

Nếu hành trình Vũng Tàu – TP.HCM đưa Thanh Thúy đến một buổi tọa đàm về phòng chống xâm hại trẻ em, thì chuyến về Hải Dương là để hỗ trợ các em khiếm thị tại Trung tâm Hội Người Mù. Còn Phú Thọ – quê hương chị – là nơi Thúy lặng lẽ chăm chút thêm cho tủ sách cộng đồng ở xã Phù Ninh. Trong mỗi chuyến đi, bên cạnh chồng và con gái, Thúy vừa là một người trở về thăm quê, vừa là một người gieo mầm cho cộng đồng. Những chuyến trở về để “gieo yêu thương” như thế, với Thúy, chưa bao giờ là điều mới mẻ.
Cô gái không thích theo lối mòn
Nguyễn Thị Thanh Thúy sinh năm 1990, tuổi Ngựa, nên cô dí dỏm: “Con ngựa một mình một đường đi”. Cô sinh ra ở Phú Thọ, đất Tổ vua Hùng, là con cả trong gia đình có hai chị em, lớn lên trên những cánh đồng lúa uốn lượn quanh rừng cọ đồi chè cùng gánh hàng nhỏ của bố mẹ ở xã Phú Lộc (nay là xã Phù Ninh). Không biết có phải nết đất sinh tính người không, nhưng nhưng Thúy lớn lên với cách suy nghĩ chín chắn hơn tuổi, và đặc biệt, không thích đi theo những lối mòn sẵn có.

Vào đại học, chị chọn ngoại ngữ tiếng Anh là chính, tiếng Pháp là ngoại ngữ thứ hai. Khi bạn bè rủ rê học tiếng Đức, Thúy lắc đầu ngay, còn đùa rằng: “Tiếng Đức nghe nặng tai lắm, chó sủa mạnh hơn tí nữa là thành tiếng Đức rồi.” Thế nhưng, cuộc đời luôn có những ngã rẽ rất lạ. Không ai ngờ rằng, nhiều năm sau, chính cô gái từng “chê” tiếng Đức ấy lại sống và làm việc ở Đức.
Sau khi tốt nghiệp, Thúy bắt đầu làm những việc nhỏ cho cộng đồng. Chị thành lập Hội từ thiện Sunrise Charity. Chị kết nối người nước ngoài ở Hà Nội – những người muốn tặng quần áo, sách vở – với các nhóm thiện nguyện đưa đồ lên vùng cao. Họ không nói được tiếng Việt, người Việt không rành tiếng Anh, Thúy đứng ở giữa: kết nối, dẫn đường, phiên dịch và đưa họ đến thăm làng, cùng dạy trẻ học tiếng Anh, làm việc thiện.
Duyên là anh!
Trong những lần hỗ trợ ấy, chị gặp Marek S., một người đàn ông Đức. Khoảng cách ngôn ngữ không trở thành rào cản, hơn thế, tính cách và suy rất hợp nhau. Thúy thật thà: “Tôi suy nghĩ già hơn bạn bè cùng tuổi rất nhiều. Nhiều khi nói chuyện với họ, nhiều lúc tôi thấy họ ngây thơ quá. Gặp anh, tôi thấy mình đúng là… bắt được tần số.”
Ban đầu chỉ là Thúy đặt xe cho anh đi công tác như một người khách nước ngoài bình thường. Rồi sau nữa, anh nhờ Thúy tìm nhà cung cấp, đi gặp đối tác, làm người đi cùng trong các cuộc thương thuyết làm ăn...

Sáu tháng làm việc chung, mối quan hệ bước sang một ngưỡng khác. Hơn một năm sau, họ kết hôn. Thúy kể: “Lúc cưới xong, chúng tôi không nghĩ sẽ về Đức sinh sống vì chồng tôi rất yêu Việt Nam và cảm thấy rất hợp với cuộc sống ở Việt Nam.”.

Sau khi sinh con gái đầu lòng, Thúy phải thu vén những hoạt động tình nguyện và công tác giảng dạy của mình gọn lại. Những năm ở Hà Nội rồi Vũng Tàu, Thúy vừa dạy tiếng Anh tự mở lớp, vừa đưa con theo cùng. Khi Sophie đi nhà trẻ, chị chạy xe máy lên các mái ấm ở chùa Hồng Quang và Chùa Từ Ân- Bà Rịa – Vũng Tàu để dạy tiếng Anh miễn phí cho các em nhỏ. Có lớp ba bốn chục đứa, ngồi chen nhau trong gian phòng chùa. Chị cộng tác với các mái ấm, cuối tuần – hoặc những ngày trẻ không đi học, chị lại lên lớp.
Marek không phản đối. “Làm gì cũng phải mở mắt trông con”, anh chỉ yêu cầu vậy. Nhưng khi Sophie đến tuổi đi học chính thức, những băn khoăn bắt đầu xuất hiện. Không chỉ chuyện áp lực học tập, mà cả cách giáo dục. Có một sự khác biệt trong cách giáo dục trẻ em ở Việt Nam với các quốc gia Châu Âu khác, và điều khiến chị day dứt nhất, đó là ở Việt Nam, tiếng nói của trẻ em quá nhỏ bé!. Trong rất nhiều tình huống, trẻ không được hỏi ý kiến, càng không có quyền lựa chọn. Các em quen với việc nghe lời, làm theo, và im lặng – ngay cả khi cảm thấy không thoải mái. Ý muốn của người lớn gần như luôn được mặc định là đúng, còn cảm xúc và suy nghĩ của trẻ thường bị xem nhẹ.
Không chỉ trong đời sống gia đình, sự thiếu tôn trọng ấy còn thể hiện rõ khi trẻ bước vào trường học. Thúy không khỏi ngỡ ngàng khi những thông tin riêng tư như hình ảnh cá nhân, nghề nghiệp của cha mẹ, hoàn cảnh gia đình… bị công khai một cách dễ dàng trong hồ sơ nhập học. Với chị, đó không đơn thuần là thủ tục hành chính, mà là một cách vô tình xâm phạm quyền riêng tư của trẻ. Chị so sánh: “Ở Đức, giáo viên hay nhà trường không được đăng hình ảnh của trẻ lên bất kì phương tiện truyền thông nào nếu không được cho phép. Họ không được phép hay tiết lộ thông tin về điểm số và học lực của trẻ cho bất cứ ai ngoài gia đình trẻ. Họ cũng không biết bố mẹ học sinh làm nghề gì, càng không ai đánh giá con trẻ qua hoàn cảnh gia đình.”
Ngay trong chính ngôi nhà nhỏ của mình, những khác biệt về tư duy giáo dục cũng dần hiện rõ. Ông bà giữ nếp nghĩ phương Đông: trẻ con phải ngoan, phải nghe lời người lớn, ăn phải hết bát, sống trong khuôn khổ kỷ luật quen thuộc – dù người lớn không phải lúc nào cũng đúng. Marek, chồng chị, lại nhìn con theo cách khác: tôn trọng cảm xúc, lắng nghe lựa chọn cá nhân, cho con quyền được nói “không”. Thúy đứng giữa hai hệ giá trị, hai cách nhìn về một đứa trẻ, vừa thấu hiểu truyền thống, vừa không thể làm ngơ trước những gì mình tin là đúng cho con.
Sự giằng co ấy không chỉ là tranh luận trong gia đình, mà trở thành một câu hỏi lớn về tương lai của Sophie: con sẽ lớn lên trong môi trường nào? Năm 2019, vì con, gia đình quyết định sang Đức – một quyết định không dễ dàng, nhất là khi Marek vẫn muốn ở lại Việt Nam. Nhưng với Thúy, đó là bước đi cần thiết để con gái được lớn lên trong một môi trường mà quyền được là chính mình của trẻ em được tôn trọng ngay từ đầu.
Đi xa để nối gần
Những tháng đầu không dễ dàng, Vừa sang tới Đức thì Covid 19 ập đến, giãn cách xã hội rồi tất cả các trường học, cơ quan nhà nước đều đóng cửa. Chị phải đợi rất lâu mới có thể học nâng cao tiếng Đức, rồi tiếp tục học cử nhân ngành công tác xã hội. “Vì duyên phận mà học được tiếng Đức,” chị cười, thừa nhận thứ tiếng này khó gấp ba tiếng Anh.

Có vốn tiếng Đức, việc kết nối cộng đồng (vốn chưa bao giờ bị ngắt quãng) của Thúy trở nên sâu, rộng hơn. Ngoài việc duy trì và mở rộng các Dự án của Sunrise dưới hình thức online, tại Đức, chị còn tham gia và điều phối các dự án của Tổ chức Stars of Việt Nam, tổ chức từ thiện hỗ trợ trẻ khiếm thị ở Việt Nam.
Trong thời gian này, Thúy kết nối và gây dựng tủ sách cộng đồng Sunrise ở Hà Giang, Gia lai và Hải Phòng. Ở quê nhà Phú Thọ, trong cửa hàng tạp hóa hiện tại của bố mẹ, chị cũng gây dựng một tủ sách gia đình hơn 200 đầu sách, mở cửa cho bất kỳ ai muốn đọc. Trên trang facebook cá nhân, chị duy trì các lớp tiếng Anh miễn phí với gần 40 học sinh với sự hỗ trợ của một nhóm giáo viên tại chỗ. Ở Việt Nam, chị duy trì việc kết nối, gầy dựng Quỹ học bổng Sunrise cho trẻ em khó khăn, mỗi năm Quỹ trao học bổng cho 60 em học sinh.
Ngoài ra, Thúy đang tư vấn và hộ trợ dự án “Phòng chống xâm hại trẻ em”, và trong dự án này Thúy đã viết một cuốn sổ tay nhỏ “Tôi có quyền nói không”, nhằm hướng dẫn trẻ cách từ chối dứt khoát trong các tình huống cụ thể.
Trong khuân khổ dự án, nhiều phụ huynh hỏi Thúy giới thiệu các cuốn sách mà họ có thể đọc để hướng dẫn con cái về giới tính và phòng chống xâm hại. Sách tiếng Đức Thúy biết rất nhiều vì đây là chuyên ngành của Thúy ở Đức, nhưng ở Việt Nam thì Thúy chưa nghĩ ra. Đúng dịp này Nhà xuất bản Tổng hợp mời cộng tác dịch hai cuốn sách, đúng lĩnh vực mà phụ huynh đang hỏi, thấy sách cần thiết quá nên chị đã đồng ý.
Chị nói: “Một trong hai cuốn tôi dịch lần này là sách của một bác sĩ sản phụ khoa, hỗ trợ phụ nữ trang bị kiến thức cho mình và cho con cái. Tôi thấy rất thú vị. Con trẻ luôn có câu hỏi trong đầu. Nhưng ai trả lời? Là bố mẹ đó! Nếu bố mẹ không có kiến thức, không biết cách nói, thì làm sao bảo vệ con? Cuốn sách này cần cho gia đình !".
Với Thúy, giáo dục trẻ em không thể chỉ dừng ở việc dạy trẻ tự cứu mình. Người lớn xung quanh cũng phải thay đổi. Chị thẳng thắn thừa nhận mình “khác số đông”. Không coi trọng hình thức. Không đi theo những chuẩn mực khiến phụ nữ châu Á “khổ tâm” vì lễ nghĩa và ánh nhìn xã hội. Chị chọn cách sống phù hợp với mình – và chịu trách nhiệm với lựa chọn ấy.
Có điều đặc biệt, là Nguyễn Thị Thanh Thúy không nói mình là người sống vì cộng đồng. Chị chỉ kể chuyện mình làm, từ việc đặt xe cho một khách nước ngoài năm nào đi từ thiện, đến những buổi dạy tiếng Anh ở mái ấm, kết nối những chương trình trao học bổng, lập các tủ sách miễn phí cho mọi người, đến việc viết sách và dịch sách bảo vệ trẻ em… như những công việc nhỏ bé, bình thường.
Không chỉ tham gia công việc xã hội ở Việt Nam, vợ chồng Thúy cùng con gái Sohie luôn có mặt ở các choạt động bảo vệ môi trường, từ thiện khác tại Đức. Với cộng đồng dù ở Việt Nam hay tại Đức, cô gái nhỏ và cả gia đình riêng của chị chưa bao giờ lạc lõng mà luôn được chào đón, quý mến bởi những gì họ đóng góp.
***
Giữa Việt Nam và Đức, giữa truyền thống và hiện tại, giữa Đông và Tây, cô chọn đứng ở điểm giao nhau.
Và ở đó, cô tiếp tục miệt mài với một điều tưởng như rất đơn giản: giúp trẻ em được an toàn hơn trong chính thế giới của mình.

