Văn hóa
Lạc vào miền khói nhang Thuỷ Xuân
Ở Thủy Xuân, khói nhang không bốc lên vồn vã. Nó lan chậm, mỏng, chừng mực. Và có gì đó rất Huế…

Tuổi làng như khói như hương
Con đường dẫn vào làng hương Thủy Xuân không dài, nhưng đủ để người ta kịp rời khỏi nhịp phố, để lại sau lưng cái ồn ã, xô bồ thị thành. Qua đoạn dốc nhỏ, gió bắt đầu khác đi, và mùi cũng khác.
Một chiều đầu Đông, đang tần ngần đứng ngắm những bó tăm hương trưng bày xòe ra như đóa hoa đang khoe sắc trên đường Huyền Trần Công Chúa, tôi gặp chị Nguyễn Thanh Hoa, một du khách đến từ Hà Nội. Thì ra, vì yêu và mê cái sắc màu rực rỡ chốn này, nên mỗi lần tới Huế, đây là địa điểm du lịch không thể bỏ qua đối với chị và những người bạn. “Đặt chân tới làng hương Thủy Xuân, tôi có cảm giác như lạc vào một xứ sở yên bình nào đó ở miền cổ tích bởi sắc màu xanh đỏ tím vàng. Đến đây, mùi trầm hương dịu nhẹ phảng phất làm tôi nhớ những ngày Tết sum họp gia đình”, chị Hoa nói.

Mùi trầm hương đó đã cư ngụ chốn này trước khi được biết đến như một điểm du lịch nức tiếng. Cư dân sống thuần thành với nghề làm hương và một số nghề phụ như làm pháp khí chùa chiền, canh tác nông nghiệp vườn đồi.
Thủy Xuân có lưng tựa đồi, mặt hướng ra sông Hương, nằm không quá gần kinh thành cũng không quá xa để giữ được không gian tĩnh lặng. Làng lại ẩn mình sau những rặng tre già, cánh rừng thông vi vu trong gió ngàn bên cạnh những lăng tẩm uy nghi, những ngôi cổ tự trầm mặc. Chính vì yếu tố phong thủy đó mà các vua chúa, quan lại triều Nguyễn đã chọn nơi đây làm nơi an nghỉ với hệ thống lăng tẩm, cùng mật độ khá dày đặc của hàng trăm ngôi chùa chiền, đền miếu. Đi cùng đó là nhu cầu về các sản phẩm phục vụ tâm linh, thờ cúng. Nghề làm hương Thủy Xuân cũng xuất hiện, nương theo đó mà tồn tại đến bây giờ. Tuổi của làng, vậy là mấy trăm năm.
Hơn nhau ở bí quyết gia truyền
Đường Huyền Trân Công Chúa - tuyến đường du lịch với dày đặc các điểm check-in, cũng là nơi sản xuất hương nổi tiếng. Chị Nguyễn Thị Thủy, chủ cơ sở Hương Nở, tay thoăn thoắt se hương mà vui vẻ trò chuyện. Chị rằng, vùng đất này trước đây còn khá hoang vu, nhiều cây trồng như trầm gió, tre già, bồ kết, hương bài và các thảo mộc từng mọc nhiều trên các triền đồi, sau vườn nhà. Tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn này, nghề làm hương ở Thủy Xuân đã ra đời. Người dân cũng sống khỏe với nghề này từ bao đời nay.

Ngày trước, nguồn nguyên liệu làm hương chủ yếu tận dụng tại chỗ. Tăm hương thì đã có tre già sẵn ở vườn. Còn bột trầm để làm thân hương và bột bời lời làm chất kết dính, phần thì trồng, phần thì mua từ Khánh Hòa, Quảng Nam… Hàng ít, chủ yếu là loại hương trầm cung cấp cho nhu cầu thờ cúng ở các lăng tẩm, đền miếu, chùa chiền hiện diện khá nhiều ở quanh làng, rồi cung cấp cho nhu cầu của người dân quanh vùng.
Ngày nay, dù quy mô thị trường có mở rộng, đa dạng hóa các sản phẩm như hương bài, hương bồ kết, nụ trầm… nhưng hương ở Thủy Xuân vẫn giữ “chất Huế” từ bao đời nay. Cái chất đó, nằm ở mỗi nhà, mỗi người, khi sản phẩm hương quan trọng ở khâu phối trộn theo bí quyết gia truyền. Nó quyết định gần như toàn bộ mùi hương, kích thước, độ hoàn thiện của từng cây hương. “Nguyên liệu thì gần như nhà nào cũng giống nhau. Kỹ thuật phối trộn sẽ cho ra những mẻ hương với mùi vị, màu sắc đặc trưng. Không nhà nào giống nhà nào”, chị nói.

Mạch nghề chảy theo lời nhỏ nhẹ của chị, rằng đến chị là đời thứ ba. Là thế hệ hậu bối, chị hi vọng nghề sẽ được truyền lại cho nhiều thế hệ sau nữa. “Từ nhỏ tui đã sống với nghề này. Ban đầu là phụ giúp ông bà, cha mẹ. Lớn lên chút nữa thì được truyền nghề. Nghề này dù thu nhập không cao cũng đủ sống nếu biết cách khai thác du lịch”, chị Thủy chia sẻ.
Đi sâu vào làng, hương hiện diện mọi nơi. Từ hiên nhà, ngoài sân, trong những buổi trưa hè nắng gắt phơi hương, hay những ngày đông nồm ẩm kéo dài cả tháng trời. Người làm hương cũng vui buồn theo những đỏng đảnh của thời tiết. Nhìn mà nhớ nhận xét đầy tinh tế của một người bạn đất cố đô: nghề hương mang tính tĩnh, khác với sự ồn ào, náo nhiệt khi vào mùa vụ như những ngành nghề khác. Mỗi người mỗi việc, cứ thế lặng lẽ, nhẹ nhàng từ những công đoạn ban đầu cho tới khi ra được thành phẩm xuất bán. Và cũng không quá khi cho rằng, đối với người dân Thủy Xuân, giá trị lớn nhất không nằm ở sản lượng, giá thành mà ở uy tín, chất lượng. Nơi “đạo” nghề được đưa lên hàng đầu.
Giữ hương cho những mùa khói sau
Bây giờ, nơi nào cũng làm hương. Đất hẹp, nguyên liệu khan hiếm, rồi hương công nghiệp tràn ngập nhờ lợi thế mùi mạnh, giá rẻ, rồi nhiều sản phẩm hương công nghiệp nhưng gắn mác “truyền thống”, “hương Huế” bán tràn lan… Người làm hương Thủy Xuân bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh khi mình làm hương từ nguyên liệu tự nhiên mà cũng bị đánh đồng “đồ dỏm”, “không tin được”!
Làm sao giữ được nghề, mà quan trọng hơn là làm sao bảo tồn chuẩn mực văn hóa của nghề đã đi qua bao thời gian?
Sứ mệnh này, ai ngờ, đã trao âm thầm cho một chàng trai trẻ.

Từ hơn 15 năm nay, cơ sở sản xuất hương sạch Tân Nguyên nằm trên đường Thanh Hải, phường Thủy Xuân vẫn miệt mài sản xuất các sản phẩm hương “rất Huế” như cách nói nửa bông đùa, nửa tự hào của “ông chủ” Nguyễn Minh Nhật Tuấn.
Sinh ra trong một gia đình có bố mẹ là cán bộ, giáo viên sống ở Thủy Xuân, anh Tuấn lại có đam mê với nghề hương. Bố là người gốc Quảng Bình (cũ), vào thành phố Huế công tác rồi se duyên cùng mẹ, cô gái Huế nền nã, gia phong. Từ nhỏ, trong những câu chuyện của bố mẹ, Tuấn được nghe kể về loại cây hương bài - một trong những loại nguyên liệu làm hương, vốn trồng phổ biến ở quê nội. Dần dà theo năm tháng, những ký ức về hương bài đã in đậm trong tâm trí của Tuấn, để rồi tới khi trưởng thành, anh đã từ bỏ mọi công việc văn phòng, dù đầy đủ bằng cấp, để theo đuổi nghiệp làm hương.

Ngay từ khi bước vào nghề, Tuấn nhận thấy nếu cứ làm thủ công theo kiểu truyền thống như lâu nay sẽ khó để thắng trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khắc nghiệt. Bởi thế, Tuấn là một trong số ít chủ cơ sở sản xuất hương ở Thủy Xuân mạnh dạn tiên phong đầu tư hệ thống phơi sấy bằng lò đốt, sấy điện, máy hút ẩm trị giá hàng trăm triệu đồng.
Nói về lý do “khác người” này, Tuấn giãi bày, cao điểm về nhu cầu sản phẩm hương thường là vào mùa lễ Tết, nhưng mùa này cũng trùng với thời tiết mưa lạnh ở Huế. Nếu không có hệ thống máy phơi sấy mà phụ thuộc vào thời tiết thì sản lượng sẽ giảm đi rất nhiều. “Không chỉ giải phóng được sức lao động, chính nhờ sử dụng hệ thống lò sấy chủ động, cơ sở của tôi có thể sản xuất các loại sản phẩm hương lên tới 100kg/ngày. Điều này không chỉ kéo giảm giá thành mà sản lượng cũng tăng lên rõ rệt, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cuối năm”, anh nói.
Nhưng “Hương sạch Tân Nguyên”, lại dắt tôi vào thế giới thú vị khác.
Tuấn kể, để làm ra sản phẩm mang thương hiệu hương sạch, đó là cả một quá trình công phu. Các thành tố quyết định hương có sạch hay không, không chỉ nằm ở nguyên liệu phải chuẩn sạch, mà cả quá trình từ trộn bột, se hương, phơi sấy cho tới bao bì nhãn mác phải sạch. Để có những sản phẩm hương sạch, doanh thu những năm đầu của cơ sở đôi lúc đã xuống dưới con số 0.

Nhờ những nỗ lực không mệt mỏi, hiện nay các sản phẩm của cơ sở Hương sạch Tân Nguyên đã vượt qua những chuẩn mực kiểm nghiệm nghiêm ngặt của các cơ quan chức năng. “Để có những bó hương được làm từ 100% bột trầm tự nhiên, không hóa chất, không phụ gia độc hại là cả một nỗ lực không ngừng nghỉ, được mất đều có cả”, Tuấn nói. Đến nay thương hiệu “Hương sạch Tân Nguyên” đã được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia năm 2025, sản phẩm OCOP 4 sao. Bên cạnh đó, sản phẩm “Hương sạch Tân Nguyên” đã được đăng ký bảo hộ thương hiệu.
Lời Tuấn nhẹ như làn khói mà nặng bao ưu tư. Nghề làm hương không đơn thuần chỉ là một nghề thông thường như các ngành nghề khác. Ở đó không chỉ có chiều sâu văn hóa, tâm linh mà còn mang thêm giá trị thực tiễn của đời sống. Còn tôi nghĩ, nó có cái gì đó “cột” người ta, như lời nguyền.

