Văn hóa
Một gánh nhân sinh lỡ nhịp tàu...
Sự kiện hơn 60 hành khách lỡ chuyến tàu Tết tại Ga Sài Gòn ngày 6/2 vì kẹt xe, không đơn thuần là một sự cố giao thông trong những ngày giáp Tết Bính Ngọ. Nhìn từ lăng kính nhân sinh, đó là một cuộc đứt gãy về mặt căn tính.

Giây phút đoàn tàu lầm lũi chuyển bánh rời ga, sân ga bị xẻ làm hai thế giới thực tại tàn nhẫn: thế giới của những người được "cứu chuộc" bằng một tấm vé và thế giới của những kẻ bị định mệnh khước từ ngay ngưỡng cửa đoàn viên.
Đọc tin, rồi nghĩ về những giọt nước mắt rơi trên sàn đá lạnh lẽo của sân ga, bỗng thấu cái thảng thốt mà thi sĩ Nguyễn Bính từng hạ bút: "Thế là tàn một giấc mơ - Thế là cả một bài thơ não nùng" (Lỡ bước sang ngang), dù đây là tiếng lòng xé ruột gan của người con gái đi lấy chồng.
Lại hình dung dưới ánh đèn neon rực rỡ của sảnh chờ, người ta chứng kiến một sự tương phản đến nhói lòng. Ở phía bên kia cửa kính, trên những toa tàu bắt đầu lăn bánh, là gương mặt hân hoan của những kẻ may mắn. Ánh sáng rạng rỡ toát ra từ những nụ cười, từ sự háo hức trong ánh mắt kẻ đã chạm tay vào giấy thông hành để trở về. Với họ, con đường phía trước là ánh sáng của bếp lửa, là mùi vị của sự tha thứ và bao dung nơi quê nhà.
Nhưng ngay sát bên lề cái hân hoan ấy, là bóng tối đặc quánh bao trùm lấy những người lỡ chuyến. Ở đó có cái nhìn tuyệt vọng của một người đàn ông đứng chết lặng, đôi bàn tay chai sạn vì gạch đá công trường buông thõng, gương mặt bạc thếch vì nắng mưa, bất lực. Có gương mặt héo đi của cô gái hai tay xách nặng giỏ đồ sắm tết cho nhà, sau một năm cúi mình trên bàn làm việc trong xưởng. Cả những gia đình gánh gồng cha mẹ con cái về thăm ông bà, giờ quay lại phòng trọ...
Tất cả họ, ở đâu, làm gì, đều chạm nhau một điểm, đó là cái nhìn ấy không chỉ dõi theo một phương tiện giao thông, mà là bứt, rớt tâm can theo một phần linh hồn mình vừa bị bỏ rơi lại phố thị. Sự đối lập này tàn nhẫn ở chỗ: người ta chỉ cách nhau một cánh cửa toa tàu, một nhịp đèn đỏ, hay một mét đường kẹt cứng, mà thực tế đã ngăn cách bằng cả một mùa xuân lạc lối.
Nếu ánh sáng trên tàu đại diện cho sự giải thoát khỏi gánh nặng mưu sinh, thì cũng ánh sáng đó, nơi sân ga, đổ trên người kẻ lỡ chuyến, chính là sự giam cầm của thực tại. Kẻ ở lại không chỉ mất một tấm vé, họ mất đi cái quyền được làm một đứa trẻ dưới mái hiên nhà cũ.
Trong triết học về sự tồn tại của người Việt, đi và về luôn là hai thái cực giằng xé. Đi, là để khẳng định sự sinh tồn, là cuộc viễn chinh về nơi không phải bản quán để đổi lấy những đồng tiền đẫm mồ hôi, cả chút danh vọng nào đó. Còn về, là cuộc hồi hương tâm linh, để tái định vị bản thân sau thời gian bị xói mòn bởi cơm áo gạo tiền, hư danh...
Nhưng giữa cái về và không về, luôn có một vực thẳm mang tên: trách nhiệm. Có những người thậm chí còn không có cả một chuyến tàu để mà lỡ. Đó là những phận người mà túi tiền không đủ nặng để gánh nổi một chuyến hồi hương. Họ chọn cách ở lại xứ người, chọn làm bạn với những ca trực xuyên Tết để đổi lấy chút tiền thưởng ít ỏi gửi về quê cho mẹ mua thuốc, cho em đóng học phí.
Bi kịch của họ là một nghịch lý hiện sinh: Để thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng gia đình, họ buộc phải từ bỏ quyền được hiện diện bên cạnh gia đình. Họ bị xô dạt giữa dòng đời, trở thành những kẻ lưu đày tự nguyện. Trong căn phòng trọ mười mét vuông tối tăm, khi ánh sáng đèn LED rực rỡ của phố thị ngoài kia dội vào, họ thấy mình như một bóng ma nằm ngoài lề mùa xuân. Khi giai điệu “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / Khi thấy mai vàng đua nở bên nương...” vang lên, nó không còn là âm nhạc nữa. Nó là một sự hành hạ tâm linh, một nhát cắt sắc lẹm vào không gian cô độc. Bản nhạc ấy là lời tạ lỗi đau đớn của kẻ thất thế trước người mẹ già đã bạc trắng mái đầu, đang tựa cửa ngóng ra con lộ bụi mờ.
Tâm thức phải trở về chính là thứ sợi dây thiêng liêng nhưng cũng là thứ xiềng xích nghiệt ngã nhất. Nó khiến người ta thấy mình như kẻ tội đồ, nếu không thể có mặt đêm giao thừa để quét sạch lớp rêu phong trên sân gạch hay sưởi ấm nồi bánh chưng. Nước mắt nuốt ngược vào trong khi nghe giọng mẹ qua điện thoại là một loại bản lĩnh bi thảm. Họ cười gượng gạo, báo rằng con ổn, con bận việc... nhưng khi màn hình tắt ngấm, chỉ còn lại mùi mì tôm nhạt nhẽo và cái lạnh sắt se của sự đơn côi tận cùng.
Họ nuốt nỗi nhớ nhà, nuốt cả mùi khói bếp vương mắt cay nồng của cố hương vào sâu trong lồng ngực để tiếp tục cuộc sinh tồn. Đó không phải là sự hèn nhát, mà là sự kiên cường và cả sự bất lực đến đau lòng của những phận người bị đời xô dạt.
Tết, suy cho cùng, không phải là một cột mốc thời gian, mà là một trạng thái hiện sinh. Những người lỡ tàu vì định mệnh, hay những người ở lại vì nghèo khó, đều là những chiến binh của trách nhiệm.
Dẫu thân xác họ đang kẹt lại giữa khối bê tông vô cảm của thành phố, nhưng chính cái tâm thức luôn muốn trở về đã định nghĩa giá trị con người họ. Cố hương lúc này không còn là một địa danh trên bản đồ, mà là một niềm đau đáu thường trực trong lồng ngực. Trong chính những giọt nước mắt dội ngược ấy, người ta thấy mình trưởng thành và sâu sắc hơn. Bởi vì quê hương, thực chất, không phải là nơi ta đến, mà là nơi ta không bao giờ có thể rời bỏ trong tâm tưởng. Những người không về, chính là những người đang gánh trên vai cả mùa xuân của gia đình bằng sự hy sinh lặng lẽ và cao cả nhất của mình.
Và dẫu có nghĩ, có nói gì đi nữa, giọt nước mắt sân ga chiều cuối năm, với chiếc vé ghi nơi đến là quê nhà, chỉ còn là kỷ niệm xót xa, là nỗi buồn tan nát ghim vào hành trang đời của kiếp tha hương kiếm sống. Bởi có là họ, mới thấu.
Lại nhớ nhà văn Sơn Nam, có lẽ một chiều nào đó cuối năm lang thang ngóc ngách Sài Gòn, nhìn hiên nhà ai xác pháo hồng tất niên đỏ thắm, mình lạc lõng giữa phố người, nỗi nhớ quê nhà vùng U Minh gào thét, ngó lại phận mình, bèn hạ bút: "Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê".