Nam dược

Y sư ở làng: ‘Mật mã’ y thuật truyền đời

Lạc Vị• 01/10/2025 05:39

Ở những làng quê, dù cuộc sống có thay đổi đến đâu, người ta vẫn luôn giữ một niềm tin bền bỉ, một sự kính trọng đặc biệt dành cho những Lương y ở làng - hay còn gọi thân thương là ông lang, bà mế. Họ không có bằng đại học, nhưng lại sở hữu thứ vốn quý giá hơn cả: kinh nghiệm y thuật truyền đời và cái tâm làm thuốc thấm đẫm triết lý cứu người.

Một lương y trẻ người Dao. Ảnh: Baolangson.vn

Chiếu ngồi danh vọng 

Hồi đó, sau một cú tông xe khá mạnh, ngực bầm đen như bôi hắc ín, tôi tìm tới nhà một lương y kiêm võ sư chưởng môn võ cổ truyền. 

Có một vị khách trẻ, áo quần te tua đầy bùn đất, đang đứng ngay trước hàng hiên, mặt nhăn nhó căng thẳng. Tôi thấy cánh tay trái anh này cứ co lên, lóng ngóng, cổ tay gục xuống. Ông thầy thuốc đang ngồi uống trà, hỏi: “Vì răng mi bị?”. “Dạ tông xe”. Ông cười ha ha: “Tới đây mà còn nói láo! Thằng đánh mi có…nghề, nhưng chờ tau xí”. Anh kia dạ dạ.

Rồi ông vận khí, điểm huyệt vào khuỷa tay và bả vai, xong kêu người nhà lấy gói thuốc đã tán nhuyễn, dặn: “Hòa rượu, bôi ngày 3 lần. Xí nữa lấy thêm thuốc về uống ba ngày”. “Bao nhiêu tiền, con trả, thưa Thầy?”. “À, đưa tau 50 ngàn”.

Khi anh kia ra về, ông mới nói với tôi: “Thằng này bị điểm huyệt, nên như tay khỉ. Vài ngày hết thôi. Nhưng tôi cầm mạch, thì thấy đầy bịnh”. Hỏi ra thì anh đó làm phu vàng, chuyên rúc hầm ở núi. Chốn chướng khí đó nước bị ô nhiễm xyanua, ăn uống thất thường, nắng mưa khắc nghiệt, không đau ốm bịnh tật mới lạ.

Sau khi thành bệnh nhân rồi kết thân với ông, tôi vỡ ra lắm chuyện.

Ông như bao người ở làng hành nghề thầy thuốc gia truyền, vị trí của họ không chỉ nằm ở căn nhà đơn sơ, thậm chí chẳng bảng biển, mà đã ăn sâu vào cơ cấu xã hội và đời sống tinh thần của người dân.

Xem thêm: Y học cổ truyền Việt Nam: Từ thảo dược đến công nghệ gen

Tuyến Y tế số 0!

Từ lâu, trong một bối cảnh mà đường sá đến trạm xá, bệnh viện còn gian nan, thì những y sư là nơi dân làng tìm đến trước tiên khi "trái gió trở trời". Nhưng có những trường hợp, như anh kia, không đến bệnh viện mà đến ngay chỗ ông thầy gia truyền, thì rõ ràng ngoài mách bảo truyền tai về khả năng y thuật, còn có cái đạo của người làm thầy. 

Phòng khám của Lương y Lê Thị Tính (Hà Tĩnh).

Chi phí khám chữa bệnh của họ thường rất phù hợp túi tiền, thậm chí đôi khi chỉ là "công" thuốc lá cây và một vài lời dặn dò chân tình. Sự gần gũi, tiện lợi của họ giúp giải quyết kịp thời các bệnh thông thường, góp phần giảm tải rất lớn cho y tế tuyến trên.

Tôi biết có một lương y, với khách xa, phần lớn là người già, nghèo khó, mà liệu trình chữa thì không thể một hai, ngày là xong, nên anh giúp họ bằng cách gởi ở chùa gần đó. Anh nói: "Tôi hay đi làm từ thiện với chùa, chỗ đó nhà tăng còn trống, kệ, xin cho ở, chứ em thấy đó, tiền đâu mà họ ở nhà nghỉ”.

Khác với phòng khám hiện đại chỉ chú trọng bệnh lý, thầy lang ở làng dành thời gian lắng nghe, hỏi han cả về gia cảnh, nếp ăn, nết ngủ. Họ không chỉ kê thuốc cho thân mà còn cho cả tâm người bệnh. Sự tin tưởng này tạo nên một sức mạnh vô hình, giúp người bệnh yên lòng và hỗ trợ tinh thần để nhanh chóng bình phục.
Xem thêm: Y học cổ truyền ở Trung Quốc - Hành trình hồi sinh một di sản

Truyền thừa gia bảo, tinh hoa thất truyền

Ở Việt Nam, xuất phát từ đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu lẫn điều kiện khám chữa bệnh, mà YHCT đã tồn tại và phát triển hàng ngàn năm, từ chốn miếu đình đến nhà riêng, nhưng có thể thấy yếu tố gia truyền chiếm khá lớn. Kiến thức của họ là gia bảo, được truyền từ đời này sang đời khác, qua kinh nghiệm thực tiễn mà sàng lọc tinh hoa. Mỗi bài thuốc gia truyền là một phần di sản văn hóa phi vật thể quý giá của dân tộc, gắn liền với thổ nhưỡng và tập quán của địa phương.

Ngoài ra, họ am tường về dược liệu bản địa như lòng bàn tay. Chỉ cần nhìn màu lá, nếm vị rễ, họ đã biết cây thuốc nào đang ở mùa tốt nhất, hái vào giờ nào thì dược tính cao nhất. Sự am hiểu hệ sinh thái này là điều mà sách vở khó lòng ghi chép hết. Chưa hết, mỗi ông thầy thuốc thủ đắc chút ít kiến thức lý số, trở thành chỗ dựa cho bà con làng xóm về ngày giờ tốt xấu khi gặp phải tang sự, làm nhà, cưới xin.

Trong bối cảnh hiện nay, khi YHCT Việt Nam đang được đề cao và Chính phủ khuyến khích phát triển, thì những lương y ở làng lại càng trở nên vô giá.

Xem thêm: Y học cổ truyền: Từ ‘di sản’ đến chiến lược quốc gia

Mỗi ông thầy, mỗi nhà thuốc đều có những bài hay, độc, lạ, những “mật mã” riêng không lộ ra ngoài. Lí do là liên quan đến “cần câu cơm” của họ. Nhưng hình như chừng đó chưa đúng hết, vì có lần tôi hỏi anh bạn là lương y có bài thuốc chữa sinh khó, là có dạy lại cho đệ tử không, bởi có một chị bệnh viện nói lưu thai quá lâu, mà chị thì mổ xẻ quá khó, dễ tử vong mẹ lẫn con, tìm tới anh thì anh cắt cho một đơn uống, từ tối qua sáng hôm sau thì sinh, mẹ tròn con vuông.

Anh trả lời: “Tiếc chi, nhưng tau sợ nó dùng… hàng hiếm để kiếm ăn, bởi tau có kinh nghiệm xương máu rồi!”.

“Nhưng, như võ cổ truyền đó, tinh hoa lần lượt theo cao thủ về đất, nên vị thế mất dần đó thôi”, tôi cãi. 

Anh nói rằng bây giờ là thời của tiền bạc lên ngôi, làm thầy khó lắm, giá một đơn thuốc nam thuốc bắc không dễ xác định, dạy tinh hoa phải chọn người, mà lớp trẻ theo nghề này ít quá, chưa nói nó xác định để kiếm ăn là nhiều chứ không phải hành đạo!

Vẫn là hợp tác công - tư

Các viện nghiên cứu, bệnh viện YHCT chính quy đang có nhu cầu rất lớn trong việc tìm kiếm, sao chép, và chuẩn hóa những bài thuốc gia truyền đã được kiểm chứng qua hàng trăm năm thực tiễn.

Các bài thuốc của thầy lang làng là nguồn dữ liệu thực nghiệm quý báu để các nhà khoa học hiện đại tiến hành nghiên cứu, phân tích hoạt chất, và bào chế ra các loại thuốc mới. Nếu không có sự hợp tác và ghi chép kịp thời, tri thức này có thể bị mai một khi thế hệ lương y lớn tuổi qua đời, vì thế hệ trẻ ngày nay ít mặn mà với nghề bốc thuốc gian khổ này. Việc ghi lại chi tiết cách chế biến, liều lượng, và kinh nghiệm xử lý ca bệnh của họ là bước đi cần thiết và cấp bách nhất để giữ lại tinh hoa y thuật của cha ông.

Rõ ràng vấn đề này đụng đến cơ chế, chính sách. “Đèn” của Nghị quyết 72 đã rọi, nhưng cụ thể hóa, thậm chí chi tiết hóa và uyển chuyển linh động để tinh hoa ở chốn thôn dã, quê mùa, những tàng thư phong kín có cơ hội lộ sáng, góp thêm vào kho tàng kinh nghiệm chữa trị YHCT của dân tộc, là điều quá cần thiết.

Xem thêm: "Mỏ vàng" dược liệu... thất thủ sân nhà

Lạc Vị