Môi trường

Đời cha trồng cây, đời con giữ rừng

Diễm Chi• 02/01/2026 06:16

Năm giờ sáng, khi con nước còn lặng, rừng đước Cần Giờ vẫn chìm trong một màu xanh thẫm, anh Võ Minh Tâm khoác chiếc áo cũ, xách theo cây gậy tre, lội xuống bùn, men theo những lối mòn quen thuộc để kiểm từng khoảnh rừng. 

Anh nhìn thân cây, xem lá non, quan sát từng chùm cọc rễ, dò dấu vết lạ. Giữ đến 62 hecta đất rừng, nên cứ làm quanh năm, ngày này qua ngày khác không hết việc. Mà công việc cứ lặp đi, lặp lại suốt mấy chục năm, từ đời cha sang đời con, âm thầm như chính cánh rừng này.

Nghề tử tế

Gia đình ông Võ Văn Mừng và bà Dương Thị Vệ (quê Long An) đến Cần Giờ lập nghiệp từ đầu những năm 1980 – thời điểm rừng ngập mặn nơi đây vừa được lực lượng Thanh niên xung phong TP.HCM trồng lại sau chiến tranh. Khi những cánh rừng non dần bén rễ, cũng là lúc cần những con người ở lại để giữ rừng.

Từ vùng quê nghèo, hai vợ chồng bồng bế nhau xuống vùng đất còn hoang vu, đường sá cách trở, điện chưa có, đêm thắp đèn dầu, ngày lội bùn. Ban đầu họ làm đủ nghề để mưu sinh: trồng lúa, trồng mía, rồi nhận giữ rừng. Tiền công những năm đầu chỉ vài chục nghìn đồng mỗi tháng, nhưng đổi lại là một mái nhà tạm giữa rừng và trách nhiệm với từng gốc cây.

Vợ chồng anh Vọ Minh Tâm vui đón con trai nhỏ tan lớp

Khi ấy, khu vực này là chốt Tắc Cá Cháy (thuộc đội giữ rừng Lôi Giang), ấp Doi Lầu, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ. Rừng cao, đất chưa ngập mặn sâu, thú rừng phá lúa, cuộc sống bấp bênh. Nhưng ông Mừng vẫn nhận giữ rừng. “Có việc làm là được rồi”, bà Vệ nhớ lại.  

Ngày qua ngày, ông Mừng quen từng con nước, từng mùa gió. Mỗi sáng sớm, ông lội hàng cây số trong rừng, kiểm tra cây đước, cây mắm, canh chừng xâm hại. Không khai thác, không chặt phá, chỉ giữ nguyên trạng. Chính sự tử tế cùng lương thiện ấy của ông, khiến lực lượng quản lý rừng tin tưởng giao khoán lâu dài.

Xem thêm:Nông dân Trần Đức Toản: Học phí từ... rừng và chuyện ong Dú keo vàng bản địa 'chấp hết', thắng to

Võ Minh Tâm lớn lên giữa rừng. Mười tám tuổi, anh gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, nhận mức lương chưa tới một triệu đồng mỗi tháng. Đến khi lập gia đình, đúng lúc ông Mừng bệnh nặng. Cơn tai biến khiến người đàn ông gắn đời với rừng không còn đủ sức đi hết những lối mòn năm xưa. Trước khi mất, ông chỉ kịp truyền lại công việc cho con trai thứ ba, là anh.

Xem thêm: Dắt… rừng vào trường, chuyện chỉ có ở xứ Ngọc Linh

Tâm nhận phần rừng cha để lại, chính thức đứng tên giữ 62 ha rừng ngập mặn.

Một ngày làm việc của Tâm bắt đầu từ 5–5g30 sáng. Anh lội rừng một mình, vợ ở nhà nấu cơm, chăm con. Công việc chủ yếu là quan sát, phòng ngừa sâu bệnh, phát hiện dấu hiệu xâm hại. Thu nhập chỉ đủ trang trải điện nước, sinh hoạt tối thiểu. Ngoài ra, gia đình không khai thác gì từ rừng, thỉnh thoảng bắt được ít cá, ít tôm hay bà khía để cải thiện bữa ăn.

Chị Lê Thị Hiếu vợ anh nói: “Giữ rừng là vậy, không có giàu. Nhưng sống đàng hoàng”,

Công việc mỗi ngày của người giữ rừng phòng hộ ở Cần Giờ là mỗi ngày phải băng qua đám được, xem cây, quat sát thân, rễ, lá, coi dấu hiệu sinh tồn của rừng.

 Nghe vậy, tôi nghĩ con trai giống mẹ giống cha đã đành, mà cả cô con dâu này cũng suy nghĩ không khác. Có lẽ đó là phúc của gia đình Tâm. Vợ chồng ông Mừng có năm người con (bốn trai, một gái). Dù nghèo, họ vẫn quyết tâm cho con ăn học. Có lúc hết gạo, không mượn được ai, bà Vệ chỉ biết khóc. Nhưng rồi các con lần lượt trưởng thành: người làm điện lực, người làm giáo viên cấp II, cấp III, người đi bộ đội trở về tiếp tục học đại học. Những đứa trẻ lớn lên từ rừng, nhờ rừng mà có tương lai khác.

Xem thêm: Anh kỹ sư nông lâm bỏ việc xứ 'Mặt trời mọc', về quê... cứu đất

Ông Mừng mất đã hai năm. Cánh rừng vẫn ở đó, mỗi sáng anh Tâm vẫn lội vào kiểm cây, canh nước. Giữ rừng với gia đình bà Vệ không chỉ là kế sinh nhai, mà là một cách sống – sống tử tế để nuôi giấc mơ cho con cái thoát nghèo bằng con đường học hành.

Giữ rừng để trả ơn đời

Chốt Đá Hàn là chốt gần nhất của Đội giữ rừng Đỗ Hòa tính từ chợ Tam Thôn Hiệp. Đội hiện có 15 hộ gia đình được giao khoán bảo vệ rừng. Như nhiều hộ khác, vợ chồng anh Dương Văn Đức phụ trách khoảng 75 héc-ta rừng dừa nước xen đước, trải dài dọc những con rạch ăn ra sông Lòng Tàu.

Chốt Dá Hàn trơ trọi ven sông Lòng tàu, là nhà của hai thế hệ  gia đình ông Dương Văn năm- anh Dương Văn Đức

Hôm chúng tôi đến, trời trong và con nước đang rút gần nửa dòng. Anh Đức giục phải qua chốt sớm, bởi nếu để quá trưa, nước xuống thấp sẽ không thể quay về bờ bên kia. Cả nhóm vội vã lên vỏ lãi, băng qua dòng sông lặng sóng để vào chốt.

Chốt Đá Hàn cũ kỹ, lợp tôn, dựng trên nền gỗ, cái sân lót đầy vỏ trái dừa nước để chống sạt lở… là “gia tài” mà ông Dương Văn Năm, cha anh Đức để lại. Cha mẹ anh vốn quê Đồng Nai. Những năm 1982–1983, vì mưu sinh, vợ chồng ông Năm đưa năm người con về Tam Thôn Hiệp, gắn đời mình với nghề khai thác lá dừa nước. Trong quá trình làm ăn, ông quen biết Ban quản lý Nông trường Đỗ Hòa, nghe kể về việc nông trường tuyển các hộ gia đình vào giữa rừng sinh sống, Nhiệm vụ là giữ và trồng thêm cây đước để phủ diện tích trừng được giao. Đổi lại là chút thu nhập khoán hàng tháng và các con của ông bà được gửi đi học chữ. Vợ chồng ông quyết định neo lại mảnh đất này lập nghiệp.

Vợ chồng anh Dương Văn Đức  thu hoạch dừa nước- món quả là sản vật của rừng giúp tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống của những hộ giữ rừng

Hơn 40 năm trôi qua, chốt Đá Hàn không chỉ là nơi trú ngụ, mà trở thành mái nhà của nhiều thế hệ. Anh Đức và các anh chị em lớn lên giữa rừng, được đưa về Tổng đội học văn hóa. Nhờ đó, tất cả đều học hết lớp 11, lớp 12, rồi ra đời tìm được việc làm, dần ổn định cuộc sống, một bước tiến xa hơn rất nhiều so với đời cha mẹ.

Năm 2012, sau một cơn đột quỵ, ông Năm qua đời. Các cô chú trong lực lượng Thanh niên xung phong động viên vợ chồng anh Đức tiếp quản chốt. Nghĩ về công việc cha từng gắn bó, về cánh rừng đã nuôi lớn cả gia đình, anh chị gật đầu nhận lời. Từ đó, họ trở thành một trong những hộ giữ rừng của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ.

Hai người con của anh Đức nay đã ngoài 20 và 18 tuổi, đều đi làm công nhân, rời rừng để mưu sinh nơi khác. Dẫu vậy, vợ chồng anh vẫn kiên trì bám trụ. Giữ rừng, với họ, không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là tâm nguyện nối dài từ đời cha: giữ rừng để trả ơn đời đã chọ gia đình họ cuộc mưu sinh tử tế.

Vòng đời xanh không dứt

Cùng giống anh Võ Minh Tâm và anh Dương Văn Đức, nhiều cặp gia đình trẻ đang giữ những cánh rừng ở Cần Giờ, đa phần là đời con nối nghiệp đời cha. Từ đất rừng do Tổng Đội 1 Thanh niên Xung phong TPHCM quản lý, bây giờ Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích Thanh niên Xung Phong TPHCM đang trông coi hơn 700 ngàn hecta đất rừng. Ở đây, nhiều con em cựu thanh niên xung xong, hay các hộ giữ rừng đã tiếp tục tình nguyện tham gia thanh niên xung phong, nối bước cha, anh, vào các chốt giữ rừng. Các bạn trẻ không có gia đình gọi vui: chốt của các bạn là chốt đơn thân! Từ các “chốt đơn thân” này, khi trưởng thành, lập gia đình, không ít bạn lại tình nguyện đăng ký nhận giữ rừng theo hộ, nhận lương khoán như gia đình của Võ Minh Tâm. Công ty bây giờ có tổng cộng 32 hộ ở 32 chốt giữ rừng như thế.

Theo ông Đỗ Văn Hoàng, Đội trưởng Đội giữ rừng Đỗ Hòa, công việc của người giữ rừng diễn ra đều đặn mỗi ngày. Họ phải đi kiểm tra từng khoảnh rừng, theo dõi tình trạng cây cối, phát hiện dấu hiệu chặt phá, sâu bệnh hay cây chết do tác động tự nhiên. Những cây bị sét đánh hoặc chết khô phải được đánh dấu, đo đếm đầy đủ đường kính, chiều cao, lập biên bản kỹ thuật để báo cáo.

Những đám dước trên sông tạo thành cảnh quan tuyệt vời, nên thơ cho Cần Giờ

Mùa nắng, nhiệm vụ phòng chống cháy rừng càng thêm nặng nề. Mỗi năm, các hộ phải phát dọn, tạo đường băng cản lửa theo diện tích được giao, có nơi lên đến hơn nửa héc-ta. Thu nhập của người giữ rừng chủ yếu tính theo diện tích khoán. Sau khi trừ bảo hiểm, mỗi hộ thực nhận khoảng hơn 5 triệu đồng một tháng, chia cho hai lao động chính. Ngoài khoản này, việc khai thác dừa nước chỉ giúp kiếm thêm chút thu nhập phụ, đủ trang trải sinh hoạt tối thiểu.

Đời sống còn nhiều khó khăn, nhưng đổi lại, con cái họ có cơ hội học hành. Từ những lớp học nội trú của Tổng đội ngày trước, nhiều đứa trẻ giữ rừng đã thoát khỏi vòng quẩn quanh của đói nghèo, bước ra ngoài với con chữ trong tay. Anh Đức cũng từng học hết lớp 12 rồi mới quay về gắn bó với rừng - “hơn đời cha mẹ” như lời ông Hoàng nói.

Công nghệ trong quản lý rừng vẫn là một khoảng trống. Flycam, bản đồ số hay hệ thống giám sát hiện đại vẫn còn là điều xa vời bởi ở dây, sóng điện thoại thường chập chờn, có khi còn mất hẳn. Lúc cần liên lạc, cán bộ đội phải chạy xuồng vào tận chốt… Nhưng những khó khăn đó có là gì đâu khi trong lòng họ có tình yêu với rừng, rừng trả lại cho họ cuộc sống ấm yên, cho các con em họ tương lai tươi sáng.

Nghe ông Hoàng kể về những đứa trẻ thế hệ thứ hai, thứ ba của rừng vào đại học hay chuẩn bị hết phổ thông với ánh mắt ngời niềm vui, mới biết vì sao nhiều người trẻ lại tiếp tục một vòng đời lặng lẽ nhưng bền bỉ, ngày ngày gìn giữ màu xanh cho Cần Giờ.

***

Hai thế hệ – cha trồng cây, con giữ rừng, cùng lặng lẽ góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” của TP.HCM - Khu dự trữ sinh quyền rừng ngập mặn thế giới. Không ồn ào, không hào quang, chỉ có những bước chân in sâu trong bùn non, theo suốt đời người của cả hai thế hệ.

Diễm Chi