Người quê tôi
Trung tướng, Anh hùng LLVTND Triệu Xuân Hòa: Một đời trọn vẹn dấn thân
Đó là hành trình của một chàng trai nghèo lớn lên ở xã Đồng Thịnh, huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ) đến vị Tư lệnh Quân khu 7, rồi Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nguyên. Cũng chính là hành trình của một người lính luôn luôn sống với tinh thần “Bộ đội Cụ Hồ”, đặt Tổ quốc lên trên tất cả.
Cuối thu 2025, chúng tôi may mắn được gặp ông, Trung tướng Anh hùng LLVT Nhân dân Triệu Xuân Hòa. Cuộc gặp ngắn ngủi, thân tình và đầy xúc động ấy giúp chúng tôi được nghe kể, được trò chuyện, được đọc để rồi vô cùng ngưỡng mộ câu chuyện cuộc đời ông.
Đó là hành trình của một chàng trai nghèo lớn lên ở xã Đồng Thịnh, huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ) đến vị Tư lệnh Quân khu 7, rồi Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nguyên. Cũng chính là hành trình của một người lính luôn luôn sống với tinh thần “Bộ đội Cụ Hồ”, đặt Tổ quốc lên trên tất cả.
Thanh xuân nơi lửa đạn
Sinh ngày 23/12/1953 trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 1972, ông nhập ngũ, biên chế về Tiểu đoàn 29, Trung đoàn 62, Sư đoàn 305 đặc công. Tháng 12/1973, khi vừa tròn 20 tuổi, ông lên đường vào chiến trường miền Nam – một lựa chọn quyết liệt, đánh dấu bước ngoặt lớn của đời người và hun đúc nên bản lĩnh gan góc của một chiến sĩ trinh sát.

Một năm sau, ông được giao nhiệm vụ nhân viên đồ bản, quân lực của Tiểu đoàn 46 (sau là Tiểu đoàn 47, Phòng Quân báo Miền), trực tiếp tham chiến tại núi Bà Đen – “nóc nhà” Đông Nam Bộ, đồng thời tham gia trinh sát phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó là những tháng ngày khắc nghiệt, nhưng cũng rực rỡ và đáng tự hào nhất trong hành trình người lính.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được kết nạp vào Đảng khi mới 22 tuổi. Giai đoạn 1976–1978, Triệu Xuân Hòa liên tục đảm nhiệm các vị trí chỉ huy tại Tiểu đoàn 47, rồi được biệt phái sang Ban Điệp báo, trực tiếp chỉ huy các đội trinh sát mang mật danh “Chim én”, “Bồ câu”, “Chim ưng”.
Trong những năm tháng ấy, ông cùng đồng đội Việt Nam và Campuchia băng rừng, vượt suối, thâm nhập sâu vào hậu phương đối phương, có nơi cách xa hơn 50 km, để móc nối lực lượng ly khai, hỗ trợ Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đó là những nhiệm vụ đặc biệt, đòi hỏi sự tuyệt đối bí mật, lòng gan dạ hiếm có và một trí lực bền bỉ – phẩm chất làm nên dấu ấn lặng thầm nhưng đáng kính của người lính trinh sát năm xưa.
Năm 1979, khi chiến trường Campuchia bước vào giai đoạn ác liệt nhất, Triệu Xuân Hòa giữ cương vị Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 47, Mặt trận 479. Chỉ trong thời gian ngắn, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách: Bí thư Đảng ủy kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 47, Đảng ủy viên Phòng Quân báo, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu Mặt trận 479 – những vị trí đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và sự vững vàng hiếm có ở một người chỉ huy trẻ.
Anh hùng tuổi 30
Trong 5 năm chiến đấu tại chiến trường K, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị 36 lần luồn sâu vào vùng địch kiểm soát, 7 lần nổ súng, tiêu diệt 30 tên địch, thu 11 khẩu súng. Đặc biệt, toàn đơn vị luôn an toàn tuyệt đối – một dấu ấn thuyết phục về tài thao lược, khả năng nắm địch chính xác và tinh thần trách nhiệm đến tận cùng của người chỉ huy.

Tháng 1/1983, khi mới tròn 30 tuổi, Triệu Xuân Hòa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân – phần thưởng xứng đáng cho một trí dũng đã được tôi luyện giữa khói lửa chiến tranh.
Sau đó, ông lần lượt giữ các cương vị Phó Trưởng phòng Quân báo, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 6. Tại đây, cùng Đảng ủy Trung đoàn, ông tập trung củng cố tổ chức, xây dựng đơn vị cơ động mạnh, tạo bước chuyển rõ nét trong giai đoạn 1987–1988.
Cuối năm 1988, trên cương vị Phó Sư đoàn trưởng – Tham mưu trưởng Sư đoàn 5, ông trực tiếp chỉ huy đợt rút quân lần thứ 8 của Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia – một chiến dịch phức tạp nhưng được tổ chức an toàn tuyệt đối. Nhiều đồng đội từng nhận xét: ở bất cứ cương vị nào, Trung tướng Triệu Xuân Hòa cũng luôn nghĩ cho người khác trước tiên, trong chiến tranh cũng như thời bình.
Buông tay súng và cầm bút
Nhắc những năm tháng rời chiến trường, ông vui vẻ, cười: “Tôi về, lại được đưa đi học ngay. Học hành nghiêm túc lắm, bù cho hồi trẻ sớm bỏ trường, đi bộ đội!”.
Ông học ngoại ngữ tại Học viện Kỹ thuật Quân sự, sau đó được đưa đi đào tạo một năm tại Liên Xô, rồi Học viện Quân sự cấp cao. Tháng 8/1992, ông được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, Quân khu 7, trong bối cảnh khu vực và thế giới biến động mạnh sau khi Liên Xô tan rã. Trên cương vị này, ông chú trọng củng cố tổ chức Đảng, kiện toàn lực lượng, nâng cao chất lượng huấn luyện, từng bước xây dựng đơn vị chính quy, tinh nhuệ.
Năm 1995, ông được điều động làm Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7, phụ trách huấn luyện, diễn tập và đối ngoại; cùng cơ quan Bộ Tham mưu đề xuất nhiều giải pháp xây dựng phòng thủ biên giới, củng cố hệ thống đồn, trạm, chốt dân quân thường trực.

Năm 2002, ông giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 7; đến năm 2009, được bổ nhiệm Tư lệnh Quân khu 7 và thăng quân hàm Trung tướng. Trong thời gian này, ông cùng Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân khu ban hành Chỉ thị 333/CT-BTL – một văn bản mang tính đột phá về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, cải cách hành chính quân sự, tạo chuyển biến rõ rệt trong nền nếp, kỷ cương ở các đơn vị.
Tháng 9/2011, ông được điều động giữ chức Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nguyên, phụ trách quốc phòng – an ninh và đối ngoại, đúng vào giai đoạn khu vực này đối mặt nhiều vấn đề phức tạp về dân tộc, tôn giáo và an ninh phi truyền thống.
Giai đoạn này cái tên Triệu Xuân Hòa trở nên nổi tiếng. Nhiều vị lãnh đạo cùng được bố trí về đây công tác lại không được dân thương bằng ông. Muốn nói với dân cái gì cũng nhờ ông ra mặt. Vị già làng Amakong nổi tiếng coi ông như con cháu trong nhà. Ông nói: “Tôi đâu có giỏi giang gì, tất cả là vì nhờ thạo tiếng Khmer, biết tiếng Lào, rồi chịu khó tìm hiểu phong tục tập quán đồng bào các dân tộc mà thôi”. Những bí quyết riêng có đó giúp ông tạo được sự tin cậy sâu sắc trong lòng nhân dân, xử lý công việc mềm dẻo và hiệu quả.
Trong thời gian này, Trung tướng Triệu Xuân Hòa trực tiếp chỉ đạo xây dựng “Quy chế phối hợp trao đổi thông tin bảo đảm an ninh – quốc phòng vùng Tây Nguyên và phụ cận” – lần đầu tiên hình thành một cơ chế phối hợp bài bản giữa quân đội, công an và chính quyền các địa phương. Ông cùng Ban Chỉ đạo tổ chức hai chuyến thăm Trường Sa và Côn Đảo cho hơn 300 cán bộ, công chức cơ sở, chức sắc tôn giáo, già làng tiêu biểu. Từ đó, thế trận an ninh – quốc phòng được củng cố vững chắc, thông tin thông suốt, nhiều tình huống phức tạp được xử lý kịp thời, thấu đáo.
Tiếp tục làm người truyền lửa
Năm 2017, Trung tướng Triệu Xuân Hòa nghỉ hưu, khép lại gần 45 năm binh nghiệp bền bỉ. Rời quân ngũ, ông không rời trách nhiệm với đất nước. Những hoạt động đối ngoại nhân dân, những cuộc gặp gỡ cựu chiến binh, thói quen miệt mài học ngoại ngữ mỗi ngày để đọc lại tài liệu chiến tranh – tất cả như một cách ông lặng lẽ gìn giữ ký ức và tiếp tục cống hiến.
Ở tuổi 70, người từng xông pha giữa chiến trường ác liệt ấy giờ thong thả châm ấm trà, kể chuyện đời thường bằng giọng hiền hòa.
Câu chuyện về người bạn đời thủy chung – cô gái cùng tên, cùng làng, từng “học giỏi hơn và hay mách người lớn” thuở thiếu thời – khiến ông bật cười sang sảng. “Có hậu phương là bà ấy, tôi mới toàn tâm ngoài mặt trận”, ông nói, giản dị mà thấm sâu. Tình yêu của họ lặng lẽ song hành cùng tình yêu đất nước: một người ra trận, một người nuôi con, dạy học và chờ đợi, bền bỉ, thủy chung.
Nhắc về mình, ông luôn khiêm nhường. Ông bảo: “Mọi điều được gọi là mưu trí hay quả cảm, suy cho cùng, chỉ là chấp hành quân lệnh bằng kỷ luật của trái tim, là luôn đặt sự an toàn của đồng đội và lợi ích của nhân dân lên trước”.
Những ngày thàng 12 này ông tất bật với những lễ kỷ niệm của Quân khu 7, của Lực lượng Vũ trang Nhân dân… Bóng dáng rắn rỏi, nụ cười ôn hòa, giọng nói vang sang sảng, rõ ràng, điềm đạm ấy toát ra tâm thái của một người đã đi qua bão lửa. Ở ông luôn toát lên chân dung một con người thẳng thắn, trung thực, giàu nghĩa tình. Có lẽ vì thế, phía sau những danh hiệu và cột mốc rực rỡ, điều khiến đồng đội và những người từng gặp ông đều trân trọng.
***
Tôi nghe nhiều người kể rằng, mỗi lần trở lại núi Bà Đen hay chiến trường xưa, ông thường đứng rất lâu trước bia liệt sĩ, lặng lẽ thì thầm với những người mãi mãi dừng lại ở tuổi đôi mươi. “Còn sống trở về, nghĩa là mình phải sống sao cho xứng”, ông từng nói. Và có lẽ, chính cách sống ấy: lặng lẽ, tận tụy và thủy chung, đã làm nên phẩm giá bền lâu của một người lính dành trọn vẹn cuộc đời mình cho Tổ quốc.