Văn hóa
Người mang giấc mơ vào lòng đất, người về sống gấp giữa thời bình
Hành trình trở lại chiến trường của các cựu chiến binh thuộc Đoàn Pháo binh Biên Hòa không chỉ gói gọn trong những năm tháng ở “cơ quan” - cách họ gọi như thế khi đã rút về căn cứ Bộ Tư lệnh mà còn trải dài theo ký ức trên chiến trường, trong từng trận đánh.

*
Ông gom tiền túi và “gom” cả đồng đội trong Pháo binh Biên Hòa năm 1971 - 1975, tự thiết kế chương trình, đặt Mỹ Lửa Việt (ông Nguyễn Văn Mỹ - Chủ tịch công ty du lịch Lửa Việt, cũng là cựu chiến binh chiến trường Campuchia) trực tiếp làm tour, đích thân dẫn đoàn. Ông lấy phòng ở khách sạn Palace, một bước thôi đã ra tới “công trường” chuẩn bị cho đại lễ 30/4 để đồng đội sáng ra tập thể dục trên đại lộ Nguyễn Huệ, chiều tối ngắm hoa và áo dài khoe sắc trong những ngày này.
Là tôi nghĩ thế. Nhưng còn hơn thế. “Các anh nhớ khách sạn này không, 50 năm trước khi tiến về Sài Gòn, nó là khách sạn cao tầng nhất…” - là cựu chiến binh Nguyễn Đức Quang muốn đồng đội sống trọn vẹn với ký ức năm xưa.
Cho nên, hành trình trở lại chiến trường của các cựu chiến binh thuộc Đoàn Pháo binh Biên Hòa không chỉ gói gọn trong những năm tháng ở “cơ quan” - cách họ gọi như thế khi đã rút về căn cứ Bộ Tư lệnh mà còn trải dài theo ký ức trên chiến trường, trong từng trận đánh. Từ khu vực dọc biên giới tỉnh Tây Ninh, Bình Phước đến (có khi) lại ở Đức Hòa, Đức Huệ, Long An, rồi về Ngã 5 chuồng chó, ngã tư Hàng Xanh, Sài Gòn… Họ, từ Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Nghệ An… đã tự nguyện vào chiến trường miền Nam. Hội tụ ở miền đất “gian lao” này, chỉ vì lòng ái quốc, giữ nước mà trở thành “anh dũng”. Chẳng phải đã có một thế hệ hậu sinh như thế, thượng tướng Trần Văn Trà tiếp nối tiền nhân là Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định, sinh ra ở Quảng Ngãi, trải đời binh nghiệp ở phương Nam đó thôi!
Hơn 50 năm họ trở lại, đi trên những con đường đã hầu như không còn dấu chứng xưa. Họ nằm lòng những cái tên như Tua Hai, Ngã ba cầy cầy, lộ Lệ Xuân, trảng Dài, suối bà Chiêm, suối Ngô, suối Tà Ôn, suối Đá… “Tìm lại những địa danh gọi bằng tên chiến dịch/ Bằng tên những trận càn hút chết/ Bằng tên cây, tên suối, tên cầu” - như cách cựu chiến binh Nguyễn Đức Quang ghi lại cảm xúc của chuyến đi.
Từ chân núi Bà Đen, đoàn đi theo đường 795 đến các huyện Tân Biên, Tân Châu, đan xen giữa những vạt rừng xưa và cánh rừng nay, họ “nhớ mang máng”, “hình như là đây”, “sao giống chỗ em bị trực thăng “vồ” hụt chết”, “Ở chỗ Cà-tum này, anh em mình đi làm nhà cho dân, có tay say rượu kiếm chuyện vác súng đòi bắn”…
Điều lạ là, cái cách họ nhắc - nhớ luôn mở đầu và kết thúc bằng sự ký thác “sống thay phần” cho đồng đội đã ngã xuống. Cũng chẳng hề nghe họ nói đến ngày chiến thắng, chỉ là sống được tới ngày gặp nhau giữa Sài Gòn, đất nước mình độc lập thật rồi, mình sẽ được về nhà bằng xương bằng thịt. Như cái đêm 30/4/1975, Tư lệnh Hoàng Cầm nằm ở hàng ba Dinh Độc Lập, những tưởng sau nhiều đêm hành quân không ngủ ông sẽ đánh một giấc thật say nhưng ai ngờ, đêm hòa bình đầu tiên của đất nước, ông thức trọn với giấc mơ đã thành hiện thực…
Và, để lục lọi trong túi sâu ký ức, họ lại kể về những giây khắc tử sinh.
Hay, vừa đọc những câu thơ mới ráo mực, cựu chiến binh Nguyễn Công Nguyên vừa chú giải “điển tích”: “Hỏi thăm xóm cũ Sáu Bèo đâu/ Cà-tum còn đó vẫn cây Cầu/ Con Thương thằng Xót tìm không thấy/ An - Lộc tình Người dịu nỗi đau”. Ngày ấy, sau trận đánh, đơn vị “nhặt” được 2 đứa trẻ là con của lính phía bên kia, đem về nuôi, đặt tên là Thương - Xót. Tới khi chiến trường ác liệt quá, tìm cách gửi chúng cho bên nhánh “binh vận”, rồi đi tiếp…
*
“… Đêm thao thức trước khi vào chiến dịch/ Nằm bên nhau kể chuyện tình yêu/ Người nhớ vợ, nhớ con quay quắt/ Kẻ mơ thấy người yêu (dù chưa một lần gặp mặt)/ Trận đánh hôm sau, bạn đưa cả giấc mơ vào lòng đất…/ Bây giờ bạn nằm nơi đâu?” - ông Nguyễn Đức Quang đã viết những câu thơ ấy trên đường về lại chiến trường xưa. Và đã khóc khi đọc giữa chuyến hành trình.
Cũng vì câu hỏi “Bây giờ bạn nằm nơi đâu” mà hơn 20 năm qua, ông không ngừng đi tìm đồng đội. Để một ngày, đứng trên đỉnh đền Cà Roòng, ông đã khóc. Trường Sơn trước mắt, Trường Sơn ôm ấp. Nhưng còn có một Trường Sơn đã khuất, trong hình hài, trong tinh anh của một thế hệ tuổi 20 - đường Quyết Thắng.
Cái ý nghĩ ít nhất các anh còn được sống để trở về, những đồng đội đã ngã xuống, lại còn được quy tập đón về; bao đồng đội đến nay vẫn chỉ lưu bằng tên, bằng tuổi, thể phách nơi đâu, liệu các anh các chị có bơ vơ, giá lạnh; để từ đó, ông miệt mài đi vận động, xây đền, khắc tên những người trên tuyến đường sinh tử 20 - Quyết Thắng. Một tiếng đại hồng chung ngân lên giữa núi rừng, cũng là thay lời nguyện cầu, hồi hướng cho những người nằm xuống, có nơi nương tựa.
Có cảm giác như một Nguyễn Đức Quang đang sống gấp giữa thời bình - dẫu đã 50 năm - cho kịp với những con người thời chiến. Ông hối hả xây cầu đền đáp, dựng đền để ghi ơn. Rồi nay, ông đưa những người lính trận năm xưa về lại căn cứ cũ để thăm và gặp gỡ lớp kế cận. Cán bộ, chiến sĩ ở các đồn biên phòng Suối Lam, Tống Lê Chân đón tiếp những người cha, người chú lâu năm trở về. Họ ân cần, tình cảm, tin cậy. Chưa đến mùa mưa nên măng le còn hiếm, vậy mà vẫn cố gắng tìm cho có để các bác các chú được ăn lại món rau rừng, măng le.
Ngồi ôn lại những cuộc chiến đi qua, đến khi chỉ huy trưởng các đồn nói về hơn 200 cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, người lính già Trường Sơn bất giác thốt lên: “Vậy thì phải xây một ngôi nhà cho các anh các chị thôi…”
Vậy là lời hứa được đưa ra: “Tháng 5 này tôi sẽ trở lại, cùng bàn thảo để cất một ngôi đền tưởng niệm, cho các liệt sĩ và cho cả chính mình!”
Đoàn đi qua thủ đô Phnôm Pênh, tìm về các địa danh Snoul (tỉnh Kratie), Memot (tỉnh Tabeng Khmum) – những nơi đã từng diễn các trận chiến đấu đẩy lùi quân lực Việt Nam cộng hòa về bên kia biên giới. Một phút mặc niệm tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ và chuyên gia Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh trên đất Campuchia vì nền độc lập, tự do của hai dân tộc.
Dưới cái nắng tháng Tư, những mái đầu bạc trắng, lặng trang. Tổ quốc đi được đến ngày bình yên là nhờ trên những cái cúi đầu thiêng liêng, bất tử ấy. Rồi họ bước đi, nhẹ nhàng, thanh thoát. Nhưng ai biết, hằng đêm, “lòng quay quắt nỗi đau về người đã mất…”, “đồng đội ơi, giờ ở nơi đâu”, “đồng đội ơi giờ sống ra sao. Vết thương có đau khi trời trở gió…” (cựu chiến binh Kiều Ngọc Trạc).