Văn hóa

Nơi lưu giữ những huyền thoại đạm bạc

PHẠM XUÂN HÙNG 12/05/2025 09:05

Giữ lại được những cái tên làng quê, địa danh là giữ lại những huyền thoại, giản dị và đạm bạc nhưng đó là hồn cốt, âm vọng từ trong quá khứ không thể bỏ qua.

Hương hỏa ký ức cộng đồng

Một bạn văn của tôi từng viết truyện ngắn kể về ngôi làng ở vùng trung du Quảng Nam và đặt tên truyện là Một huyền thoại đạm bạc. Tôi cho rằng, bất cứ ngôi làng ở vùng quê nào trên đất nước Việt Nam cũng chất chứa những huyền thoại đạm bạc, là những câu chuyện nấp dưới sương khói huyền thoại nhưng lại giản dị như chính tên đất, tên làng.

Có một nhà thơ từng nói, người Việt đi đâu cũng gánh theo tên đất, tên làng, điều đó chính xác. Theo chiều dài lịch sử, những bước chân lưu dân tha hương còn mang vác được gì. Quần áo sẽ rách đi, cuốc cày sẽ mòn vẹt, thậm chí tiếng nói cũng sẽ phôi phai, biến đổi trên vùng đất mới. May mà tên đất, tên làng còn giữ lại. Giữ lại trong ký ức như sợi dây thương nhớ truyền đời. Như thế, phải chăng và may ra mỗi thân phận không thấy mình riêng lẻ, cô độc trôi dạt giữa biển đời.

Xưa kia, tiền khai khẩn hậu khai canh, ở nơi nào đó, việc quan trọng nhất và trên tất thảy đối với cư dân là việc đặt tên làng, địa danh. Có nhiều cách đặt tên, nơi thì dựa vào phương vị như Bắc Bình, Nam Ngãi, Đông Lễ, Tây Trì, nơi thì dựa vào hình sông thế núi, vật dáng như Ải Vân, Giăng Màn, Cổng Trời, Ngự Bình, Đèo Ngang, Trống Mái, Cửu Long… Nơi thì lấy luôn nghề truyền thống như rèn, dệt, thêu, đúc đồng để gọi. Thành ra khi nói ra tên làng, người ta thường kèm luôn cả nghề, như ở phía bắc có Làng gốm Bát Tràng, Làng tranh Đông Hồ, Làng lụa Vạn Phúc… Ở Quảng Nam, Đà Nẵng cũng có như Làng chiếu Triêm Tây, Làng dệt Mã Châu, Làng đá Non Nước.

Còn nhiều kiểu đặt tên khác, rất đa dạng như lấy tên người khai khẩn, khai canh, người có công với nước, với dân đặt tên làng, địa danh như kênh Vĩnh Tế, đèo Mụ Giạ, các buôn làng ở Tây Nguyên như Buôn Ma Thuột, Plei Sar, Plei Chôt, Plei Tang; lấy ước mong, khát vọng của cộng đồng làm tên gọi Thăng Long, Phú Yên, Lạc Giao, Phú Quý. Hoặc có khi tên gọi bắt nguồn từ truyền thuyết, cổ tích, giai thoại như sông Hương ở Thừa Thiên – Huế, núi Tản Viên ở Hà Nội. Tóm lại, có rất nhiều cách thức để đặt định tên làng, địa danh.

Không phải ngẫu nhiên mà khoa học về nghiên cứu địa danh (Toponomatics) trên thế giới rất rộng. Dựa trên thông tin ngữ dụng học, địa lý, lịch sử, các lớp trầm tích về văn hóa, xã hội, người ta còn chia nhỏ ra các nhánh chuyên nghiên cứu về nguồn gốc địa danh (Etymology), lịch sử địa danh (History), phân bố địa lý của địa danh (Geography). Ở Việt Nam, tuy chưa hình thành rõ nét các chuyên ngành kể trên, song nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đã có những công trình tiếp cận với hệ thống tên gọi làng xã, địa danh. Qua đó, bóc tách, tìm hiểu và đi đến những kết luận có giá trị về khoa học xã hội – nhân văn.

Bỏ qua những vấn đề có tính chuyên môn cao thì tên làng và địa danh cũng đã trở thành di sản của cha ông để lại, là hương hỏa ký ức của một cộng đồng, một dòng họ, một vùng đất. Nắm giữ và hiểu biết về tên làng, địa danh là cách chắp nối những sự kiện rời rạc, khơi thông những gián đoạn của dòng chảy lịch sử và vẽ lại chân dung của tiền nhân trong quá khứ.

Nhìn từ góc độ dân gian, hiếm có vùng đất nào không để lại tên làng, địa danh trong ca dao, dân ca. Nếu ví ca dao, dân ca, tục ngữ… là những viên ngọc quý của kho tàng folklore thì trên mỗi viên ngọc quý đó luôn có hồn vía thăng hoa từ những địa danh. Xa xôi ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc như: Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa/ Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh, Nàng về nuôi cái cùng con/ Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng; Phúc An có đất Ô Đồ/ Có suối róc rách, có cô áo chàm… Miền Trung từ mạn bắc trở vào, vô số những câu ca dao như: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ; Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ Truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang; Núi Ngự Bình trước tròn sau méo/ Sông An Cựu nắng đục mưa trong; Đi bộ thì sợ Hải Vân/ Đi thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi; Chiều chiều mây phủ Sơn Trà/ Lòng ta thương bạn nước mắt và lộn cơm; Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi; Bao giờ Cầu Mống gãy đôi/ Sông Thu hết nước em mới thôi thương chàng; Muốn ăn bánh ít lá gai/ Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi…

Vào miền Nam, vùng đất mới cũng tràn ngập: Nhà Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về; Tháp Mười nước mặn đồng chua/ Nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng; Cà Mau khỉ khọt trên bưng/ Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um… Nhiều câu ca dao, hò vè, dân ca tương tự, không kể xiết.

Những tên đất, tên làng ngoài một số phủ màu sương khói của huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích… thì có không ít những cái tên bị biến đổi theo thời gian mà qua đó có thể nhận biết lịch sử một thời kỳ, một giai đoạn. Chẳng hạn, thời nhà Nguyễn, việc kỵ húy nghiêm khắc dẫn đến nhiều nơi chốn phải đổi tên. Vùng Thanh Hóa ngày nay trước kia có tên là Thanh Hoa, do kỵ húy mà trại đi, tương tự chợ Đông Hoa cũng phải đổi thành chợ Đông Ba, sông Minh Lương thành sông Hiền Lương như ngày nay…

Giữ địa danh là giữ huyền thoại

Đã có một thời, vì nhiều lý do, chúng ta không chú ý đến việc bảo tồn các địa danh, tên làng. Chúng ta mã hóa bằng những con số hoặc đặt định theo ý muốn chủ quan. Những ngôi làng hay đơn vị hành chính cao hơn như cấp xã, huyện, bỗng dưng phải nhường tên cúng cơm cho các con số, các tổ hợp từ mang tính cổ động như thôn 1, thôn 2, xã Đoàn Kết, xã Tự Cường, xã Tiền Phong… Việc đặt tên như vậy có thực sự tiện lợi về mặt quản lý hành chính hay không và ít nhiều cổ xúy tinh thần hay không, chưa rõ. Nhưng đứt gãy truyền thống, văn hóa, lịch sử… thì chắc chắn đã có xảy ra.

Gần đây, thông tin trên báo chí cho biết, có khoảng 56 địa phương trong cả nước với 50 huyện và 1.243 xã thuộc diện sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính, khiến nhiều cộng đồng dân cư xôn xao, lo lắng, thậm chí phản ứng. Gạn lọc và gạt bỏ đi thái độ quá khích vì thói tự tôn, sự kỳ thị vùng miền, thì những ưu tư đó là có thật, nó phản ánh nỗi lo lắng khi tên làng, tên đất mất đi, nghĩa là truyền thống ở đó cũng có khả năng mất đi.

Dĩ nhiên, một đất nước muốn phát triển luôn phải có những chủ trương, chính sách phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, thậm chí có những quyết định buộc phải va chạm lợi ích một nhóm thiểu số. Tuy nhiên, trong trường hợp này, những nơi cần sáp nhập và đặt lại tên mới cần có ý kiến đóng góp của người dân bên cạnh việc tham khảo và tư vấn của các nhà chuyên môn như ngôn ngữ học, sử học, văn hóa học… để có hướng giải quyết thấu đáo, hợp tình, hợp lý.

Các lý thuyết về khoa học xã hội - nhân văn và thực tế đều cho thấy, địa danh bao hàm trong đó tên xóm, tên làng, tên sông, tên núi… là một phần và là phần quan trọng trong di sản văn hóa phi vật thể nói chung. Giữ lại được những cái tên làng quê, địa danh là giữ lại những huyền thoại, giản dị và đạm bạc nhưng đó là hồn cốt, âm vọng từ trong quá khứ không thể bỏ qua. 

PHẠM XUÂN HÙNG