Văn hóa
Bài 1: Tuyên Bình - Đồng dao hiện đại bên rừng keo
Sông Gianh khi vượt qua những trầm hùng của đại ngàn Trường Sơn, chia hai nhánh Rào Nậy và Rào Trổ đổ về đất Tuyên Hóa thuở trước hợp thủy, có dáng tựa như dạ dày, lại như đưa cánh tay ôm ấp dòng chảy rộng ra. Lưu tốc nhỏ dần, khoan thai, xanh mát, bình yên như tiếng thở nhẹ bồi hồi mà tụ hội, như dồn hết linh khí tài vật tạo ra cho đất này một cái tên Minh Cầm thuộc Tuyên Bình bây giờ - lọt giữa bàn tay ẵm bồng của sông mẹ.
Đất Tuyên Hóa thuở đó, sáng rỡ nhờ cái tên này đi vào thơ ca nhạc họa. Ai ngược miền sơn cước, mà chạm phải Minh Cầm - cái làng thu đọng dưới kia đó, trong nắng lóa vòm trắng nhà thờ hắt xuống biếc xanh của sông, tịch mịch của núi, mà không ngẩn ngơ? Khúc mơ xanh thoát đói, hết nghèo hình như đã dậy…

Khách ra về, được người Tuyên Bình tặng túi bánh gai đặc sản. Thức quê dân dã mà trĩu một tấm lòng.
Ăn để biết cái ngon đã đành, nhưng cốt là cảm cái mùi nhớ mà nó trỗi dậy tiềm thức khi vô tình chạm phải địa danh. Vỏ xanh đen đậm mật. Nhân đậu bùi, thơm quyện quện. Bao thức món ở bao xứ đất, chốn quê mà nhắc đến người ta mường tượng thung thổ ướp vị đất, loáng trong đó là mặt người.
Cái thời ăn mặc thanh tao, ý vị tưởng đã qua trong sách của Tự Lực Văn đoàn, của những trang văn như “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” của Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng… hơn một thập niên rồi, nó sống lại. Không phải là cuộc tái bản ào ạt của sách, mà là bước xoay của thời cuộc khi món ăn thanh - ngon - sạch tưởng chừng đã mất, nay lại lên ngôi.

Và nó đọc tên chủ. Gọi hồn khách. Lúc khiêm cung lúc vỗ ngực tự mình sắp đặt một chiếu ngồi trong thiên hạ. Hình như cái bánh gai xứ Tuyên Bình này cũng vậy. Danh nó chưa đi xa, vua chưa biết mặt chúa chưa biết tên, nhưng đó là “bảo bối” hàng đầu khi ai đó hỏi tới sản vật quê mình thì người ở đây lại nhanh nhảu khai báo…
Đây là một sản phẩm được làm rất công phu, từ việc chuẩn bị lá, xay bột, giã đến trộn nguyên liệu và gói bánh. Việc này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, nên thường chỉ làm khi có đặt hàng trước. Chứ vì thòm thèm mà gọi, thì đừng mơ. Làm để mà ăn, chứ bán được mấy…

Xã mới Tuyên Bình (Quảng Trị) có từ 3 xã Mai Hóa, Ngư Hóa và Phong Hóa, rộng tới 119,19km2, dân hơn 15 ngàn người. Trong ngồn ngộn công việc sau một tháng đi vào vận hành bộ máy mới, xem ra thuận ít mà nghịch, khó nhiều.
Bởi cái nền khốn khó cũ còn nguyên đó. Bí thư xã là anh Nguyễn Văn Sáu nói rằng xã đang đối mặt với tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo đáng kể: 108 hộ nghèo, chiếm 2,66% và 100 hộ cận nghèo, chiếm 2,46% trên tổng số hộ dân. Tỉ lệ dân số tham gia BHYT còn thấp 59,44% (9.284/15.619 người)...

Nhìn nơi nào khá, thì chắc chắn ở đó có doanh nghiệp, khu công nghiệp, nhưng Tuyên Bình thì buồn lắm. Nói như anh Sáu là chỉ vài doanh nghiệp siêu nhỏ! Thu nhập chủ yếu của người dân là keo nguyên liệu.
Cái ăn hàng ngày từ lương thực đưa lại cũng là lúa, ngô. Nhưng quy mô cũng nhỏ do diện tích đất canh tác hạn chế. Trong ba xã nhập lại, thì Ngư Hóa dân số chỉ khoảng 600 người, cách trung tâm khoảng 25km và đường đi vào là đường độc đạo, gây nhiều khó khăn cho việc đi lại, giao thương…

Thêm cái chuyện lo quản lý rừng, nhất là vùng giáp Hà Tĩnh. Dân đói ăn, thiếu mặc mà ở rừng thì cơm gạo từ rừng mà ra chứ đâu. Nhưng quản lý không chặt thì cả quan tới dân coi chừng “đáo tụng đình”. Rồi chuyện công chức ở xa đến làm việc, thì khốn khổ với việc thiếu nguồn nước sinh hoạt. Mà nói toạc ra là thường không có nước để tắm giặt, ăn uống rất khó khăn. Cơ quan cũ nát, chật chội. Rồi có người vì ở xa quá, gia cảnh gieo neo, từ nơi đi đến chỗ làm 30km đường rừng độc đạo, làm đâu được 2 tuần đã xin nghỉ vì kiệt sức.
- Vậy, thế mạnh kinh tế của xã là gì?
- Trồng keo. Diện tích rừng chiếm một phần rất lớn trong tổng diện tích tự nhiên của xã, khoảng 60km2 trên tổng số 120km2, chủ yếu là rừng keo nguyên liệu do người dân trồng.

Tôi ngồi nghe Bí thư rồi Chủ tịch trả lời mà hình dung cái đồi vừa bị vạt thêm miếng đất nữa. Như bao chốn ở miền Trung mà tôi đã đến. Thấy mồn một cái chống cằm thở hổn hển của chủ nhà vì vừa tụt dốc xuống sau cánh rừng keo. Dân sống nhờ cây keo chứ biết trồng cây gì nuôi con gì.
Sau mấy chục năm thử nghiệm cây, con, nhà nước cũng… chịu sầu. Một hecta keo sau 4 - 5 năm chỉ cho thu nhập khoảng 40 - 50 triệu đồng, mặc dù ít công chăm sóc. So với lúa, dù năng suất cao hơn (20 - 30 triệu đồng/ha/năm), nhưng keo là kẻ thù của đất. Dưới tán keo, không thứ cây gì sống nổi khi nó sinh ra độ phân hóa đất rất lớn, làm kiệt hết hàm lượng tốt. Sau mỗi mùa thu hoạch, đất trơ ra như cục gân gà.

“Lộ trình trồng keo này, không thể kéo dài” - anh Hoàng Văn Phúc, Chủ tịch xã nói - “Chúng tôi đang hướng đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, biến một phần diện tích rừng keo thành vùng trồng cây đặc sản có giá trị kinh tế cao hơn. Xã đang xem xét việc trồng cây bản địa hoặc các cây dược liệu dưới tán rừng. Đặc biệt là trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của địa phương, các loại tinh dầu trong cây dược liệu càng lớn, tạo ra giá trị cao”.
Chuyện này, lắm nơi làm, nhưng đầu ra cho vùng nguyên liệu, thị trường, cơ chế khiến mắc kẹt. Bao nhiêu thứ bứt tóc hại não từ dân đến quan. Cuối cùng vẫn ca bài “Keo ơi ta bảo keo này”… Nghèo là phải.
Nhưng, Chủ tịch xã buông một câu chắc nịch như… tuyên ngôn con đường thoát nghèo: “Ở đây có tiềm năng về du lịch, nếu phát triển được, tôi tin Tuyên Bình sẽ thoát nghèo!”.