Nghĩa tình biên giới
Rước vong linh liệt sĩ từ đất Lào: Họ đã về đất Việt trước cơn mưa
Tạp chí Nông thôn Việt, Ban Chỉ huy Biên phòng và Tỉnh Đoàn Quảng Trị xuyên mưa để thắp nén nhang, rước linh hồn những người lính Trường Sơn đã bỏ mình nơi đất Lào, về Đền Cà Roòng yên nghỉ. Để an ủi niềm đau đáu trong trái tim người sống về món nợ phải trả cho máu xương. Món nợ nghĩa tình.

Trung tá Nguyễn Văn Thống - Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cà Roòng - nói rằng bây giờ đã bắt đầu vào mùa mưa Trường Sơn. Lúc này, Lễ rước vong linh các anh hùng liệt sĩ từ nước bạn Lào về nước, an vị tại Đền tưởng niệm liệt sĩ Trường Sơn, trọng điểm Cà Roòng - ATP Đường 20 Quyết Thắng đang diễn ra.
Cái thứ mưa dữ dằn, ào ạt, ngả nghiêng, nước từ ruột trời bị thủng mà vá không được, rồi đổ từ trên núi như cơn quặn bụng trào ngược. Dưới lên trên xuống, nó lùa đất đổ, cây bứng gốc. Như hôm qua trước khi anh em lên đây, anh phải cho bộ đội chặt cây lớn đổ ngang đường. Ai đi núi, đều ngán mưa rừng. Mịt mùng. Tối đen. Vô tăm tích. Con đường nối muôn ngả, bỗng trở thành tuyệt lộ. Rồi con suối cạn ban ngày thấy cá quẫy, soi mặt được, dịu dàng như ca dao, thoắt thành bà phù thủy trong cổ tích với cơn điên loạn thét gào, cuốn phăng… Cái thứ mưa chốn này, nó có “hộ khẩu” phía đất bạn Lào.
Ba tháng mưa là ba tháng ám ảnh của người lính biên phòng nơi tiếp giáp đường biên này. Ẩm ướt kinh khủng. “Buổi sáng đi lên các chốt là mệt nhất. Bộ đội nhiều người bị bệnh tuyến giáp, vì sương độc”. Anh Thống nói, mà nỗi buồn từ đôi mắt nghiêm nghị của anh đột ngột dâng lên. “Vì chất độc hồi trước Mỹ thả, dễ chi hết anh”.
Tôi nghe, rùng mình. 2026, là đủ 60 năm Đường 20 Quyết thắng Cà Roòng-ATP được mở ra giữa rừng núi này. Mũi đột phá cửa tử xuyên qua đất bạn Lào thuở đó, khi cú đi vòng để đánh úp, ngoài chuyện nó là chiến lược trên bàn cờ chiến tranh, thì có những câu chuyện khác nhưng cùng kể về một nỗi niềm: Có bao nhiêu người lính Trường Sơn đã nằm lại phía đất Lào, chừng đó năm rồi, chưa một lần qua cột mốc để về với đất Mẹ?
Mưa càng về trưa càng nặng hạt. Lời kinh cầu chiêu hồn cho vong linh anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong, bá tánh thất tán hồn xác, vang lên trong mưa, sao tôi nghe như tiếng kinh cầu của người di-gan bao kiếp? Không, những gương mặt tuổi xanh của ngày lên đường, đi để về chứ không phải đi mãi. Nhưng bao giờ về? Có lẽ, với họ thuở đó, là “hỏi trời chẳng biết, hỏi đất đất không hay”.

Họ không kịp về nhìn mặt hòa bình một dải từ Châu thổ sông Hồng đến Đồng bằng Sông Cửu Long lấp lánh nụ cười. Chỗ này đây là trạm kiểm soát cửa khẩu. Bên kia đất bạn, đường sạt nát. Mâm ngũ quả, vài tập giấy hóa vàng, nặng như mưa bởi tấc lòng của đồng đội, của bao người nhìn cột mốc mịt mùng trong mưa núi, một lời chào, một bàn tay rước đỡ: Về đi các anh các chị, về với đất Mẹ, chốn Cà Roòng này có mái đền của tấm lòng ứa máu chở che. Về, để yên nghỉ đời đời.
Mấy ki-lô-mét từ “nhà người” sang “nhà mình” mà phải chờ hơn nửa thế kỷ, bước chân mới đến hiên thềm. Rừng già lặng phắt dưới những cú tạt nước không ngừng. Những cây lát hoa thẳng tắp như người lính đứng nghiêm. Đây là danh mộc, vân của nó khá lộng lẫy. Cây hay những gương mặt thời ấy, mãi đến giờ vẫn đứng tấn nơi cương thổ quốc gia nhưng chưa có lệnh ra về? Và cỏ. Cỏ ngút ngàn muôn loại.

Còn gì nữa ngoài cỏ. Tôi nhớ Uýt Man, nhà thơ Mỹ với gia tài là cỏ. Dưới chân là cỏ. Cỏ tiên tri. Cỏ đau. Cỏ của hy vọng. Bởi có gì hơn cỏ. Đôi giày của ông hay đời ông, chính là cỏ. Thơ như cỏ, là tiên tri thấu thị con đường thi ca. Còn những người lính ngày đó để lại dấu chân tuổi trẻ ở Trường Sơn, cũng là cỏ. Họ thấu thị cho một tương lai có tên là Hòa bình cho tổ quốc. “Mười tám hai mươi sắc như cỏ - Dày như cỏ - Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ - Cơn gió lạ một chiều không rõ rệt - Hoa chuẩn bị âm thầm trong đất - Nơi đó nhất định mùa xuân sẽ bùng lên - Hơn một điều bất chợt - Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc) - Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc? - Cỏ sắc mà ấm quá, phải không em...” (Thanh Thảo).

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ - Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (Tây Tiến - Quang Dũng).
Chẳng ai tiếc cả. Dãy núi mẹ Trường Sơn dài hơn 1.100km, tựa như một con Rồng khổng lồ vươn dài, uốn lượn trên trời xanh mây trắng, có những dốc đèo nổi tiếng, thậm chí được báo chí nước ngoài nhắc tới như cái tên Mụ Giạ (Mu Gia pass). Dưới các đỉnh núi Pu Xai Lai Leng, Ngọc Linh, Chư Yang Sin… đổ về miền đồng bằng là những cánh rừng, cây cao khoảng 50 - 60 mét. Đường phía Tây Trường Sơn có đoạn tạt sang đất bạn Lào, còn vùng Đông Trường Sơn dày đặc đường mòn như vảy rồng, gắn với những câu chuyện kỳ bí về thiên nhiên, sức chịu đựng phi thường và tình người, xuất phát từ lòng yêu nước. Đó là con đường vảy rồng của thế ‘tàng long ngọa hổ” giữ cơ đồ đất mẹ. Họ, những người lính, những cô gái thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến ngày đó, chính là một Trường Sơn mọc đôi vai tuổi 20 yêu dấu. Mọc cả trên đôi vai mẹ chẳng được ngày đón con về dẫu một nắm xương tàn. Mưa rừng, chướng khí, bom cày đạn xới máu loang thành sông, nhưng trái tim còn quá trẻ đến nỗi một cánh bướm bay hay cái nắng như bà tiên hiện ra sau mùa mưa dài, sau cơn sốt rét rừng, cũng khiến nao lòng.
Chẳng tiếc nhưng họ nhớ ngày về, mà đường về mịt mùng vô lối. Ngày họ ra trận, đi như gió thổi. Sắc chân trời hay sắc xanh màu áo, và bây giờ làm sao tìm họ được như đó là của rừng sâu núi thẳm, màu của tuổi xanh vùi trong đất…
“Họ trẻ lắm những người nằm dưới đó - Ao binh nhì xanh suốt tuổi đôi mươi” (Sông Mê Công bốn mặt - Anh Ngọc). Ngày đó, ai sống ai chết, ai dành phần sống cho ai lấy giọt lệ giành phần mình, chỉ có người lính mới biết, chỉ đá lạnh rừng im mới biết.

Với tôi, chỉ có những người lính kịp nhìn mặt nhau và gọi tên đó là đồng đội thuở đạn bom, đau đáu cho ngày phải đưa bạn về dẫu chỉ là một cơn mưa đi trong tâm nguyện. Những bạn bè nằm lại nơi lưng đèo, cuối dốc, lối mòn, không có cơ may trở lại đường quốc lộ ngày chiến chinh tàn, là cái dằm nơi tim họ. Đưa bạn về để nhận mặt quê hương, đó là hành xử của chiến binh khi cất súng vào kho. Và hôm nay, Tạp chí Nông Thôn Việt, Ban Chỉ huy Biên phòng và Tỉnh Đoàn Quảng Trị xuyên mưa để thắp nén nhang, rước linh hồn những người lính Trường Sơn đã bỏ mình nơi đất Lào, về Đền Cà Roòng yên nghỉ, để giảm bớt nỗi đau đáu trong trái tim người còn sống một món nợ phải trả cho máu xương. Món nợ nghĩa tình.

Và phút đó, trái tim họ hiện ra, rớm máu cho một tâm nguyện thay lời thề: Chiêu hồn đồng đội về để hương linh họ mỉm cười.
Vừa qua giờ Ngọ, khi bát nhang mang hương linh họ rước từ cột mốc đã về an vị ở Đền Cà Roòng, thì bắt đầu mưa ngớt. Xe chạy về xuôi, trời hửng nắng dần. Tôi nhìn về hướng núi. Có thấy gì đâu ngoài sắc xanh như đôi mắt tuổi trẻ. Họ đã về với sắc xanh quê Mẹ. Từ phút này đây, bao linh hồn đã được an ủi. Mưa không còn thấm rét. Nắng không còn lột da. Cơn sốt rừng xanh xương mét máu đã đứng ngoài cửa. Và lại rùng mình nhớ, đêm qua khi thắp nến tri ân họ ở Đền Cà Roòng, bướm trắng như vũ hội đột nhiên kéo về, đậu cả trên ngực, trên vai áo…