Chính sách

Cần có nghị quyết đặc thù cho nông nghiệp đô thị của TP.HCM

Đoàn Quý• 27/11/2025 08:31

Nhận định TP.HCM có nhiều dư địa sau sáp nhập và kết nối vùng, trả lời báo chí, TS. Trần Minh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn, cho rằng thành phố sớm có đề án đến năm 2045 với chính sách hỗ trợ vốn xanh, công nghệ và mở rộng không gian canh tác.

TS. Trần Minh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn.

Thưa ông, trong bối cảnh TP.HCM đang phát triển đô thị hóa mạnh mẽ và đặc biệt là việc hoàn tất sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, theo ông nông nghiệp đô thị nên được định hướng phát triển như thế nào?

TS Trần Minh Hải: TP.HCM đang đứng trước bối cảnh có rất nhiều cơ hội để phát triển nông nghiệp đô thị, đặc biệt là sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu vào.

Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy: Khi tập trung phát triển công nghiệp, họ thường bỏ qua tỷ trọng nông nghiệp rất nhỏ. Đến một lúc nào đó, họ buộc phải quay trở lại đầu tư rất nhiều tiền để khôi phục phần nhỏ đó, và một trong những giải pháp là sử dụng nông nghiệp đô thị.

Với bối cảnh hiện nay, giải pháp đầu tiên là TP.HCM phải có một Đề án phát triển nông nghiệp đô thị tới năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Đề án này UBND Thành phố phải tham mưu cho Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành thành một Nghị quyết đặc thù. Khi có nghị quyết rồi thì tới năm 2030 hay 2045 chúng ta triển khai mới bài bản.

Vậy theo ông, chúng ta nên tập trung vào những vấn đề cốt lõi nào về chính sách và không gian phát triển?

Trong đề án, UBND Thành phố cần có chủ trương đi kèm chính sách cụ thể về không gian và nguồn lực.

Thứ nhất là về không gian. Chúng ta có cho phép sử dụng các mái nhà, hay tận dụng quỹ đất trống ven sông để trồng các loại nông sản ngắn ngày không? Việc này hoàn toàn không ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị, ngược lại còn hỗ trợ giảm phát thải. Hay như tại các vỉa hè chung cư, công viên, liệu có thể cho phép cộng đồng tận dụng dịp cuối tuần để trưng bày, giao lưu các sản phẩm nông nghiệp đô thị hay không?

Thứ hai là về tư duy liên kết vùng. Không gian nông nghiệp của TP.HCM (cũ) rất bó hẹp, do đó đề án cần mở rộng tư duy phát triển sang các vùng của TP.HCM (mới) như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu. Ví dụ, xã Bạch Đằng (Tân Uyên cũ) có những mô hình rất hay mà ta cần học hỏi để thích hợp mở rộng không gian canh tác.

Thứ ba là về cơ chế vốn. Nhà nước không cần hỗ trợ tiền mặt trực tiếp quá nhiều, mà cần hỗ trợ bằng cơ chế. Ví dụ, khi doanh nghiệp liên kết với cộng đồng dân cư, Nhà nước hãy hỗ trợ xác nhận vùng nguyên liệu hoặc xác nhận các chỉ số giảm phát thải. Chính những hồ sơ giảm phát thải này là 'giấy thông hành' để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn tài chính xanh và vốn vay ngân hàng. Ngoài ra, vốn ngân sách nên tập trung đầu tư cho R&D, phát triển các trung tâm công nghệ sinh học để tạo ra bộ giống mới chất lượng.

Cuối cùng là phát triển tổ chức đại diện. Chúng ta cần tập trung xây dựng các mô hình Hợp tác xã hoặc các câu lạc bộ cộng đồng (như hội cựu giáo chức, hội người cao tuổi). Đây là lực lượng nòng cốt, những người về hưu có thể khởi nghiệp để tạo niềm đam mê và lan tỏa phong trào sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, an toàn gắn với sức khỏe.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, mối liên kết giữa các bên cần được thiết lập như thế nào thưa ông?

Theo tôi, phát triển nông nghiệp đô thị phải gắn với ba trụ cột: Chính quyền, đại diện tổ chức cộng đồng/hợp tác xã, và doanh nghiệp. Trong đó, mối liên kết chính là cộng đồng và doanh nghiệp.

Chính quyền đóng vai trò hỗ trợ xúc tiến. Hợp tác xã và tổ hợp tác của TP.HCM quy mô rất nhỏ, nên cần hỗ trợ đào tạo, liên kết ngang nhiều hợp tác xã nhỏ thành lớn, kết hợp làm du lịch; hoặc chính quyền cho phép doanh nghiệp liên kết với trường học làm du lịch học đường.

Chúng ta không chờ đợi mà phải làm liền các mô hình thí điểm. Kết hợp với Hội nông dân, Phòng Kinh tế các địa phương làm thí điểm ngay. Ngân sách nhà nước không cần đầu tư nhiều, chỉ cần đưa ra kế hoạch và từ kế hoạch đó các địa phương kết hợp với doanh nghiệp để triển khai.

Ông có đề xuất nên học tập mô hình cụ thể nào từ các nước trên thế giới phù hợp với điều kiện TP.HCM?

Tôi đề xuất chúng ta nên học tập mô hình nông nghiệp đô thị của 3 quốc gia, mà tôi cho rằng rất phù hợp với điều kiện của TP.HCM.

Đầu tiên là Hàn Quốc. Tại đây, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hạ tầng cơ bản như nhà màng, công nghệ… sau đó giao cho người trẻ khởi nghiệp quản lý và vận hành. Các bạn trẻ cam kết làm việc như một doanh nghiệp xã hội: vừa sản xuất, vừa có trách nhiệm đào tạo, truyền cảm hứng cho thế hệ tiếp theo và giúp người dân phân biệt được sản phẩm an toàn. Từ mô hình điểm ban đầu, hiện nay họ đã nhân rộng ra 8 thành phố lớn.

Thứ hai là mô hình của Thái Lan. Họ xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các Hợp tác xã và hệ thống siêu thị, điển hình là Central Retail. Tập đoàn này đặt hàng chi tiết cho nông dân: ngày nào xuống giống, trồng cây gì, quy trình sơ chế ra sao… sau đó bao tiêu toàn bộ đầu ra. Tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi và áp dụng cách làm này với Central Retail tại Việt Nam hoặc các hệ thống siêu thị lớn trong nước.

Cuối cùng là mô hình tại các đô thị Nhật Bản như Tokyo, Osaka, Kyoto hay Kagoshima. Nhà nước khuyến khích phát triển nông nghiệp đô thị gắn liền với giao lưu văn hóa và du lịch. Định kỳ hàng tuần hoặc hàng tháng, chính quyền tổ chức các lễ hội, sự kiện để tạo không gian (cả trực tiếp lẫn trực tuyến) cho những người làm nông nghiệp chia sẻ kiến thức, kết nối học thuật và quảng bá sản phẩm.

Ngoài các giải pháp, đề xuất trên, ông có lời khuyên nào về công nghệ và mô hình sản xuất nông nghiệp đô thị?

Ngoài các giải pháp trên, bên cạnh việc huy động cộng đồng, yếu tố then chốt để doanh nghiệp đầu tư bài bản chính là công nghệ cao. Các mô hình như nông nghiệp tầng cao, tủ trồng rau nhiều ngăn hay hệ thống Aquaponics hữu cơ (trên rau, dưới cá) là những ví dụ điển hình.

Khi ứng dụng công nghệ cao vào những mô hình này, chúng ta sẽ giải quyết được bài toán sản xuất hàng hóa. Ngay cả với không gian chật hẹp của đô thị, không cần diện tích lớn, công nghệ sẽ giúp chúng ta tận dụng tối đa không gian, từ đó tăng tần suất và hiệu suất canh tác lên rất nhiều lần.

TP.HCM định hướng nông nghiệp thành “lá chắn xanh” cho siêu đô thị sau mở rộng

Ngày 26/11, tại hội thảo “Nông nghiệp đô thị - tương lai nông nghiệp trong lòng thành phố”, Phó chủ tịch UBND TP.HCM Bùi Minh Thạnh cho biết sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố chính thức bước vào giai đoạn phát triển mới với diện tích tự nhiên hơn 6.700 km² và dân số trên 14 triệu người. Quy mô mở rộng giúp TP.HCM tiếp tục giữ vai trò đầu tàu kinh tế khi đóng góp khoảng một phần tư GDP và hơn 30% ngân sách cả nước.

Trong chiến lược phát triển, lãnh đạo TP.HCM xác định nông nghiệp đô thị, công nghệ cao và sinh thái không chỉ là sinh kế của người dân mà trở thành một trong những trụ cột quan trọng của không gian xanh đô thị. Ngành này được kỳ vọng đảm nhiệm vai trò bảo vệ môi trường, tăng khả năng điều tiết nước, duy trì bản sắc cảnh quan và giúp thành phố thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc mở rộng địa giới hành chính mang lại cho TP.HCM hơn 454.000 ha đất nông nghiệp, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất lớn dựa trên thế mạnh từng khu vực. Theo định hướng, khu vực trung tâm TP.HCM cũ sẽ phát triển nông nghiệp công nghệ cao và hệ thống nghiên cứu giống. Bình Dương tập trung vào cây công nghiệp và chăn nuôi quy mô lớn theo hướng hữu cơ, còn Bà Rịa - Vũng Tàu đẩy mạnh thủy sản mặn, lợ kết hợp du lịch nông nghiệp sinh thái. Sự phân vùng này nhằm khắc phục tình trạng sản xuất manh mún và xây dựng chuỗi liên kết từ nghiên cứu, nuôi trồng đến chế biến và logistics nông sản cho toàn vùng Đông Nam Bộ.

Về tầm nhìn dài hạn, TP.HCM đặt mục tiêu đưa nông nghiệp trở thành hệ sinh thái đa giá trị, vừa tạo ra sản phẩm công nghệ cao, vừa đóng vai trò như vùng đệm sinh thái điều hòa khí hậu, chống ngập và phát triển du lịch xanh. Thành phố hướng tới xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp quốc gia với các lĩnh vực trọng tâm gồm nghiên cứu giống, công nghệ sinh học – tế bào, dữ liệu và dự báo nông nghiệp số, cùng cụm công nghiệp chế biến sâu và hệ thống logistics hiện đại.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nông nghiệp được xem là “lá chắn sinh thái” bảo vệ thành phố thông qua hệ thống rừng, sông rạch, ao hồ và đầm phá, giúp điều tiết nước và giảm thiểu rủi ro thiên tai. TP.HCM cũng định hướng phát triển các hành lang kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ dọc các tuyến chiến lược như Vành đai 3, Vành đai 4 và cao tốc TP.HCM - Vũng Tàu, kết nối đồng bộ với cảng biển, cảng sông, sân bay và trung tâm logistics.

Thành phố đồng thời phát triển mô hình kinh tế nông nghiệp đô thị hiện đại, trong đó nông dân trở thành “công dân nông nghiệp số”, ứng dụng AI, IoT và blockchain vào sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là hướng đi nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu nông sản trong giai đoạn mới.

Xem thêm: Nông nghiệp TP.HCM tìm hướng đi thích ứng với đô thị hóa

Đoàn Quý