Kinh tế xanh

‘Mạch máu’ tín dụng xanh: Giải cơn khát vốn cho nông nghiệp Việt trước vòng xoáy tỷ đô

KHẢI THƯ• 03/01/2026 06:45

Thế giới vừa ghi nhận cột mốc kỷ lục 947 tỷ USD đổ vào nợ xanh trong năm 2025. Trong khi các "ông lớn" như Trung Quốc, Ấn Độ ráo riết dùng vốn xanh làm quân bài chiến lược, thì tại Việt Nam – một cường quốc nông nghiệp – dòng vốn này vẫn đang loay hoay tìm đường "ra đồng".

Dù số lượng ngân hàng tham gia tín dụng xanh tăng gấp 4 lần, nhưng thực tế dư nợ xanh mới chỉ chiếm khoảng 4% tổng dư nợ nền kinh tế. Ảnh: FR

Nghịch lý "vốn chờ ruộng, ruộng thiếu vốn"

Dù số lượng ngân hàng tham gia tín dụng xanh tăng gấp 4 lần, nhưng thực tế dư nợ xanh mới chỉ chiếm khoảng 4% tổng dư nợ nền kinh tế. Riêng trong nông nghiệp, dòng vốn này đang gặp phải 3 "điểm nghẽn" kinh niên

Điểm nghẽn về sự minh bạch: Phần lớn các Hợp tác xã (HTX) và nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, thiếu hồ sơ số hóa, nhật ký canh tác và báo cáo tài chính được kiểm toán. Với ngân hàng, "không có dữ liệu nghĩa là rủi ro cao", dẫn đến việc từ chối cho vay dù dự án có tiềm năng xanh.

Điểm nghẽn về tài sản đảm bảo: Đất nông nghiệp thường có giá trị định giá thấp, trong khi các tài sản trên đất (nhà màng, hệ thống tưới công nghệ cao) chưa được pháp luật công nhận rộng rãi là tài sản thế chấp. Nông dân "cắm" sổ đỏ vay tiêu dùng thì dễ, nhưng vay đầu tư xanh quy mô lớn thì tắc.

Sự lệch pha về kỳ hạn và lãi suất: Đầu tư nông nghiệp xanh (như chuyển đổi sang lúa phát thải thấp hay cây ăn quả hữu cơ) cần thời gian hoàn vốn dài (5-7 năm), nhưng nguồn vốn của ngân hàng thương mại chủ yếu là ngắn hạn với lãi suất vẫn còn neo ở mức cao so với biên lợi nhuận của nông sản.

Xem thêm: Hơn 3.500 mô hình liên kết đang tạo hình một nền nông nghiệp xanh

Bài học từ láng giềng: Thái Lan và Indonesia đã làm gì?

Để gỡ nút thắt, Việt Nam có thể nhìn sang các mô hình thành công trong khu vực.

Thái Lan: Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp (BAAC) đã phát hành "Trái phiếu xanh" chuyên biệt để tài trợ cho các dự án trồng rừng và nông nghiệp bền vững với lãi suất cực thấp, được Chính phủ bảo lãnh.

Indonesia: Họ áp dụng hệ thống Green Taxonomy (Phân loại xanh) rất nghiêm ngặt. Chỉ cần doanh nghiệp chứng minh được việc giảm phát thải qua hệ thống đo lường MRV, họ sẽ lập tức được tiếp cận gói vay hỗ trợ lãi suất và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

"Phá băng, cần gì?

Để tín dụng xanh không chỉ là con số trên báo cáo mà thực sự chảy vào ruộng vườn, cần một lộ trình 3 bước quyết liệt:

Số hóa để "định danh" xanh: Cần xây dựng bản đồ số vùng trồng và hồ sơ điện tử cho HTX. Khi mọi dữ liệu từ lịch sử canh tác đến hợp đồng bao tiêu được minh bạch trên nền tảng số, ngân hàng có thể cho vay dựa trên tín chấp chuỗi giá trị thay vì chỉ nhìn vào sổ đỏ.

Kích hoạt "đòn bẩy" lãi suất 2% và Quỹ bảo lãnh: Nghị định hỗ trợ lãi suất 2%/năm (đang trình Chính phủ) cần ưu tiên đặc biệt cho các dự án nông nghiệp tuần hoàn. Đồng thời, việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng xanh (hợp tác công - tư) sẽ là "tấm khiên" chia sẻ rủi ro, giúp ngân hàng tự tin giải ngân 100% vốn cho các dự án công nghệ cao mà không cần tài sản thế chấp.

Xem thêm: Lãi suất 2% từ vốn xanh: Điều kiện cần và đủ

Sớm vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon vào năm 2026.

Biến Carbon thành tiền: Sớm vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon vào năm 2026. Đây là giải pháp căn cơ nhất: Nông dân canh tác xanh sẽ thu về tín chỉ carbon. Tín chỉ này không chỉ là tiền mặt mà còn là tài sản đảm bảo mới để vay vốn ngân hàng, biến nông nghiệp từ ngành phát thải thành ngành "hái ra tiền" từ không khí.

Tín dụng xanh 2026 không còn là sự hỗ trợ mang tính "từ thiện", mà là điều kiện bắt buộc để nông sản Việt tồn tại. Nếu không nhanh chóng gỡ bỏ các điểm nghẽn pháp lý và dữ liệu, chúng ta sẽ lỡ chuyến tàu tỷ USD toàn cầu, đẩy người nông dân vào thế yếu trong cuộc chơi xanh hóa của thế giới.

Xem thêm: Mở dòng vốn xanh cho nông nghiệp Việt Nam

KHẢI THƯ