Nông nghiệp hữu cơ ĐBSCL: Lợi ích vô hình, thách thức hữu hình và khát vọng ‘tấm lá chắn’ pháp lý

ĐOÀN QUÝ - THIÊN KIM• 05/11/2025 05:34

Canh tác hữu cơ tại ĐBSCL mang lại lợi ích 'vàng' về sức khỏe con người và hệ sinh thái, đồng thời nâng cao chất lượng gạo, nhưng đang bị kìm hãm nghiêm trọng bởi những 'nút thắt' cố hữu: chi phí vật tư phi lý, hiệu quả kinh tế thấp và một khoảng trống 'lá chắn' pháp lý.

Đây là bức tranh đa chiều được các chuyên gia hàng đầu trong nước và quốc tế phác họa tại Hội thảo Quốc tế ISOP 2025 (Ngày 4/11/2025). Các phân tích chỉ ra, dù tham vọng lớn, nhưng cuộc "lột xác" sang nông nghiệp hữu cơ đang đối mặt với những rào cản từ gốc rễ, đòi hỏi một sự thay đổi mang tính hệ thống.

Hội thảo Quốc tế ISOP 2025 với chủ đề “Nông nghiệp hữu cơ - Phát triển bền vững”, do Trường Đại học Cần Thơ tổ chức và kéo dài liên tục trong bốn ngày, từ ngày 03/11 đến hết 06/11/2025. Tạp chí Nông thôn Việt là đối tác truyền thông chính thức của sự kiện.

Vướng từ phân bón đến thói quen

Phân tích ở cấp độ nông hộ, các chuyên gia chỉ ra một nghịch lý kinh tế: Dù nông dân áp dụng kỹ thuật tốt, nhưng lợi nhuận thu về lại chưa tương xứng.

PGS. TS. Khổng Tiến Dũng.

Nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Khổng Tiến Dũng (Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ) đưa ra một kết quả khảo sát tại Vĩnh Long, rằng về mặt kỹ thuật, mô hình chuyển đổi hữu cơ cho hiệu quả tương đối cao, nhưng về mặt kinh tế thì hiệu quả lại thấp hơn. Cụ thể, mức độ tối ưu hóa đầu vào để đạt sản lượng tương đối cao, đạt khoảng 32-33%, nhưng hiệu quả về kinh tế (lợi nhuận thực tế) chỉ đạt khoảng 25%.

PGS. TS. Khổng Tiến Dũng cũng chỉ ra: "Tuổi của chủ hộ rất là cao với trung bình là 54 tuổi... cũng rất là khó để mà thay đổi cái quan điểm của những người đã lớn tuổi". Hơn nữa, như đã mặc định trong tư duy, cắm sâu gốc rễ chi phối hành vi của họ là nỗi sợ mất mùa, sợ thua lỗ khiến họ rất khó từ bỏ hoàn toàn thói quen suy nghĩ đó đã ăn sâu hàng chục năm.

TS. Joachim H. Spangenberg.

Ở một góc nhìn khác, TS. Joachim H. Spangenberg (Trung tâm Nghiên cứu Jülich, Đức) cho rằng vấn đề từ chuỗi cung ứng phân bón hữu cơ. Ông chỉ ra "nút thắt" lớn nhất về vật tư: "Sản xuất phân hữu cơ... trong nước là một nhu cầu cấp thiết".

Theo TS. Joachim H. Spangenberg, khi chuyển sang hữu cơ, nông dân phải thay thế hoàn toàn phân bón hóa học. Tuy nhiên hiện nông dân đang gặp khó khi mua phân bón hữu cơ được chứng nhận. Song song đó, các nhà cung ứng lại đối mặt với rủi ro: nếu không có đơn hàng đủ lớn, họ sẽ không có lợi nhuận để xây dựng chuỗi cung ứng.

TS. Spangenberg cho rằng đây là vấn đề cần "sự hỗ trợ về tài chính để đảm bảo được cái nguồn cung ổn định" trong giai đoạn đầu chuyển đổi.

Xem thêm: Ông Hồ Xuân Hùng: Chừng nào thị trường chưa minh bạch, cây giống, phân bón giả vẫn nhởn nhơ

Động lực lớn nhất để thay đổi: Lan tỏa lợi ích “phi kinh tế”

Nếu kinh tế chưa phải là động lực chính, vậy điều gì thúc đẩy nông dân theo đuổi con đường hữu cơ gian nan?

Bà Gioia Emidi.

Bà Gioia Emidi (từ Viện Đại học Liên Hợp Quốc về Môi trường và An ninh con người (UNU-EHS), ĐH Bonn, Đức) lý giải, động lực lớn nhất đến từ những lợi ích "lan tỏa" phi kinh tế.

Nghiên cứu của nhóm bà Gioia Emidi tại 5 tỉnh ĐBSCL cho thấy, nông dân nhận thức rõ sự cải thiện về sức khỏe.

"Sử dụng phân hữu cơ... Khi tôi ra ngoài ruộng, tôi cảm thấy khỏe mạnh hơn so với việc trước đây tôi sử dụng hóa chất. Tôi cảm thấy hòa hợp với thiên nhiên hơn và tôi cảm thấy không bị ngứa bởi những cái độc tố ở trong môi trường”, bà Gioia Emidi trích lời một nông dân ở Cà Mau tại hội thảo.

Cũng theo bà Gioia Emidi, canh tác hữu cơ còn mang lại sự trở lại của đa dạng sinh học. Nông dân báo cáo "có nhiều cá đồng hơn, có nhiều chim hơn, có nhiều ếch nhái hơn" và các loài thiên địch xuất hiện. Điều này không chỉ cải thiện môi trường mà còn tạo thêm sinh kế.

TS. Bjorn Thiele.

Không chỉ môi trường sống thay đổi, TS. Bjorn Thiele (Viện nghiên cứu Jülich, Đức) đã mang đến một bằng chứng khoa học cụ thể. Nghiên cứu của ông trên 7 giống lúa tại Vĩnh Long chỉ ra một kết quả ấn tượng: các giống lúa có màu (như lúa tím, lúa đỏ) khi được canh tác theo phương pháp hữu cơ có hàm lượng các hợp chất có lợi cho sức khỏe cao vượt trội so với lúa trồng theo kiểu truyền thống.

Cụ thể, chúng không chỉ giàu chất chống oxy hóa mà còn có hàm lượng GABA rất cao. Đây là một hợp chất tự nhiên có chức năng quan trọng giúp giảm căng thẳng, giảm áp lực và hỗ trợ điều trị chứng mất ngủ.

Theo TS. Thiele, đây chính là cơ sở khoa học vững chắc để định vị các sản phẩm gạo hữu cơ này ở phân khúc cao cấp. Khi người tiêu dùng hiểu rõ lợi ích sức khỏe rõ rệt mà họ nhận được, họ sẽ sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn. Khoản chênh lệch này sẽ giúp nông dân bù đắp cho chi phí sản xuất ban đầu và sản lượng có thể thấp hơn trong giai đoạn chuyển đổi.

Xem thêm: Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu: Mơ được làm bản đồ khí tượng nông nghiệp Việt Nam và... cho đi miễn phí

“Lá chắn” pháp lý ở đâu?

Trên cả chi phí và thói quen canh tác, các chuyên gia cũng cho rằng, nỗ lực của từng nông hộ canh tác hữu cơ đang bị đe dọa bởi các rủi ro mang tính hệ thống.

Bà Gioia Emidi chỉ ra rào cản lớn nhất là "ô nhiễm chéo" từ nguồn nước. Nông dân lo lắng nước từ các ruộng canh tác truyền thống ở thượng nguồn sẽ chảy sang, ảnh hưởng đến ruộng hữu cơ.

"Họ muốn việc canh tác hữu cơ này nó sẽ trở nên hệ thống hơn, có sự phối hợp kết hợp nhiều hơn", bà Gioia Emidi chia sẻ.

Ông Nick Kupfer.

Nguy cơ này là có thật. Dữ liệu viễn thám 3 năm (2022-2025) do nhóm nghiên cứu của Nick Kupfer (Nghiên cứu sinh tại Trung tâm nghiên cứu Jülich, Đức) thu thập cho thấy bức tranh phức tạp về sử dụng đất và thuốc bảo vệ thực vật.

Ông Kupfer cho biết, để có được thông tin chính xác, đặc biệt là về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (một việc "khó để mà ghi nhận, thu thập được"), nhóm của ông đã phải kết hợp nhiều nguồn chứng cứ như phỏng vấn trực tiếp nông dân; thu thập hình ảnh thực địa; đối chiếu bằng ảnh vệ tinh; thu thập và phân tích mẫu đất. Bằng cách kết hợp tất cả các nguồn tin này, bộ dữ liệu có thể kiểm chứng lại những gì nông dân cung cấp.

Ở góc nhìn chính sách, TS. Nguyễn Ngọc Diễm (Viện Khoa học Xã hội miền Nam) đặt ra yêu cầu cấp thiết về mặt chính sách. Với kinh nghiệm "5 năm tập trận làm nông nghiệp", bà Diễm mô tả đây là "con đường vô cùng khó khăn... có ngọt bùi, cay đắng, đầy đủ cả".

TS. Nguyễn Ngọc Diễm.

Bà chỉ rõ, Việt Nam có tham vọng đứng thứ 15 thế giới về nông nghiệp hữu cơ, nhưng hành lang pháp lý hiện tại, chủ yếu dựa vào Nghị định 109 (năm 2018), là chưa đủ.

Theo TS Diễm, sự thiếu vắng một bộ luật cho nông nghiệp hữu cơ khiến các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư không đủ sức nặng. Điều này dẫn đến một hệ lụy nguy hiểm là "greenwashing" (rửa xanh), nơi các sản phẩm không đạt chuẩn nhưng vẫn gắn mác hữu cơ, gây thiệt hại cho cả người tiêu dùng và nhà sản xuất chân chính.

TS. Diễm khẳng định: "Làm sao mà bảo vệ được cái người sản xuất chân chính và cái người tiêu dùng một cách tốt nhất thì bắt buộc phải có, nên xây dựng một một cái bộ luật riêng cho nó". Đồng thời bà nhấn mạnh, rằng cần thiết phải "luật hóa" để tạo ra văn bản pháp lý cao nhất, ngang tầm với các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ.

Widget "ISOP 2025 | Gieo tri thức về 'hữu cơ' xuống cánh đồng Việt"

Theo nongthonviet.com.vn
https://nongthonviet.com.vn/nong-nghiep-huu-co-dbscl-loi-ich-vo-hinh-thach-thuc-huu-hinh-va-khat-vong-tam-la-chan-phap-ly-690a3732c468a174eacfd166.ngn
Copy Link
https://nongthonviet.com.vn/nong-nghiep-huu-co-dbscl-loi-ich-vo-hinh-thach-thuc-huu-hinh-va-khat-vong-tam-la-chan-phap-ly-690a3732c468a174eacfd166.ngn
    Nổi bật
        Mới nhất
        Nông nghiệp hữu cơ ĐBSCL: Lợi ích vô hình, thách thức hữu hình và khát vọng ‘tấm lá chắn’ pháp lý
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO