Nỗi nhớ trong lời
Ai xa quê hương lâu ngày, chiều cuối năm về ăn Tết vẫn thấy tim mình thổn thức khi nghe tiếng chào quen thuộc, riêng xứ mình, như kéo theo một trời ký ức nhớ thương trở về cùng: “Chèng đéc ơi! Dữ thần hôn! Giờ mới dìa…”.

1.
Năm 1975, hai đứa cháu của bà Tư Lan mới lần đầu tiên biết mặt bà nội. Ba má sắp nhỏ dẫn con về, biểu con chào bà nội đi, hai đứa nhỏ vòng tay “Cháu chào bà ạ”. Bà Tư Lan hơi sững người, hai đứa nhỏ nói giọng Bắc rặt.
Giọng Bắc ấy chỉ tồn tại trong gia đình bà có một đời đó, rồi thôi. Lớp con của những đứa nhỏ ngày ấy lúc lẫm chẫm biết đi biết nói đã nhõng nhẽo ngọt ngay “con hổng chịu đâu!...”. Lâu dần, lối xóm cũng quen, ít ai còn ngạc nhiên: ủa cháu bà Tư Lan sao nói tiếng Bắc? Đến giờ, giọng Hà Nội còn lại trong gia đình như một lời nhắc, rằng có thời họ đã phải chia cách tận hai đầu đất nước, mình ên mà nhớ thương nhau.
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu kỳ lạ, khi đã gắn vào ai đó, nó được người ta sở hữu như một thuộc tính cá nhân bền vững. Bao nhiêu năm tháng được vây bọc chung quanh bởi những anh Tư anh Bảy “huỵch tẹt”, “ạch đụi”, người đàn ông quê hương gốc gác vốn ở đất Vĩnh Long nhưng được sinh ra trên đất Bắc vẫn cứ nhỏ nhẹ “dạ vâng ạ” với mọi người, nét nhẹ nhõm kiêu ngầm không phai mờ trong giọng nói.
Ba tôi được bà con lối xóm kêu là ông Hai Bắc, ông giữ giọng Bắc tới tận bây giờ. Với giọng Bắc ấy, ông lên lớp, dạy cho đám trẻ lớp bảy lớp tám ở trường biết tên những dòng nước chảy dọc ngang trước xóm sau nhà. Lúc nào thì thấy nước mà kêu là rạch, xẻo, xép; ở đâu thì nước thành láng, lung, bưng, biền; nơi nào thì kêu là gành, xáng, đầm, đìa…
Ông học từng từ, từng câu chữ, học ở tất cả mọi người thân sơ mà ông gặp, người dạy ông nhiều nhất là nội. Ba tôi có nhiều cuốn sổ chép lại tất cả những từ ngữ mà nội nói, rồi cặm cụi ghi lời giải thích ý nghĩa bên cạnh.

Ngày nội mất, ba đặt chồng sổ trên bàn thờ. Nói tiếng Bắc mà mê tiếng Nam, ông trở thành thầy giáo dạy văn cấp hai cho trường xã, trường thị trấn. Bao nhiêu cơ hội để đi xa hơn, vươn cao hơn, ông từ chối. Ông nói ở đây đám nhỏ cần ông hơn, ông làm được nhiều việc hơn. Mãi sau này, tìm lại số liệu, tôi mới thấy Nam bộ những năm đó 30% người dân mù chữ, ở những nơi xa ánh sáng đô thị, tỷ lệ đó chắc còn cao hơn.
2.
Tôi nhớ lại câu chuyện đó khi lần đầu tiên hướng dẫn ba tôi khám phá Chat GPT. Ông sững sờ ngồi nhìn những dòng chữ được tạo ra trên màn hình, mê mải đặt câu hỏi, chuyện trò, vặn vẹo “thằng Chat”. Tới hết buổi chiều hôm đó, ông giáo già gỡ kính cầm tay, nhìn màn hình trầm ngâm nói: thằng này ghê thật!
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp chỉ thuộc về con người, duy nhất, như một đặc quyền mà các giống loài khác không thể với tới, như thể một dấu hiệu khẳng định tính người. Cuộc trò chuyện của ông giáo già với Chat GPT lần đó khiến ông sốc vì khả năng trò chuyện tiếng Việt của một “thằng” chẳng biết sinh ra lớn lên từ đất trời phương nào.
Câu cú của Chat chuẩn chỉnh, phức tạp nhưng chính xác, đầy sức thuyết phục. Mấy ngày hôm sau đó, tôi dạy ông cách viết promt, trò chuyện với Chat GPT. Ông giáo thử tài “thằng Chat” về phương ngữ Nam bộ. Hoá ra “thằng” này biết hết, từ Xẻo Đước ở đâu cho tới “xẻo” nghĩa là gì. Tôi nghĩ đã nhiều lần ông giáo già mất tinh thần, định bỏ cuộc.
Nhưng rồi tới lúc tôi phải đi, ông từ tốn nói: Chat GPT biết nhiều thật, nhưng đọc nó khó nhớ, không đi vào tâm trí của con người được. Có lẽ vì ngôn ngữ của nó không có tính cách, không có tâm hồn.
Tôi ba lơn: “Ba cứ hỏi nó có tâm hồn không, biết liền chớ gì!”. Ông cười: “Ba hỏi rồi. Nó bảo nó không có!”

3.
Tôi nhớ những bài làm của sinh viên của mình. Nhiều đoạn các bạn chép từ Chat GPT và dán thẳng vào bài, nhìn còn nguyên định dạng, đọc còn rõ văn phong. Ông giáo già nói đúng, văn phong của Chat GPT hàn lâm, có thể tuỳ biến theo nhiều phong cách khác nữa, nghệ thuật hơn, mềm mại hơn cũng có, nhưng đều dễ nhận ra đó là “Chat”. Nó thiếu một điều gì đó, thiếu tính người.
Nhưng nó chính xác và chặt chẽ, đến nỗi nó làm cho người ta ngại, sợ, rằng mình không viết được chặt chẽ, chính xác như thế. Sự tự tin về ngôn ngữ của con người bị Chat thao túng. Trong nhiều lý do, có lý do vì Chat đã nắm được thứ vũ khí mạnh mẽ nhất của nhân loại: ngôn ngữ.
Ngôn ngữ phản ánh những trải nghiệm của con người, mỗi một từ đều là một lần nhận biết, nhớ, riêng tư, khắc sâu, thành lối thành rãnh ở đâu đó trong tâm tư tiềm thức của mỗi người, thành cách nói cách viết riêng biệt.
Có một khao khát vô cùng mãnh liệt trong từng lời ăn tiếng nói của con người: khao khát để người nghe hiểu mình, hiểu liền, hiểu hết, hiểu cả ý sau lời. Tôi lớn lên với tiếng Việt của quê hương mình, tiếng nói của người lối xóm, dân dã mà nhiều khi ý tại ngôn ngoại.
Cứ nghe “no lòi bản họng”, “tức cành hông”, “rầu thúi ruột” mà coi, “nói dzậy mà hỏng phải dzậy”. Có lần đọc học giả Cao Thoại Châu mà nhớ quê quay quắt, phải chạy về liền, đi ngược đi xuôi, lội ra chợ vô bưng, về U Minh để nghe cho hết, cho “đã” lỗ tai những lời chỉ nước: nước ròng, nước kém, nước trồi, nước dềnh, nước sụt, nước giựt, nước bò, nước nhảy, nước đứng, nước nằm, nước chừng, nước nhửng, nước ương, nước chết, nước sát, nước rặc, nước quay…
“Một dân tộc còn có gì quý giá hơn là ngôn ngữ mà ông cha để lại?” (Gottfried Von Herder) – chắc chắn không chỉ mình ông giáo già đau đáu kiếm tìm, cất giữ di sản văn hoá cho lớp hậu sinh.

Năm mươi năm, tiếng Việt Nam bộ đã thành quen thuộc, thành yêu thương với người Việt từ Bắc chí Nam. Tôi cứ nghĩ phải có những ông giáo già cặm cụi như ba tôi, thì mới có những đứa trẻ lớn lên vừa rành rẽ sáu câu ngôn ngữ xứ mình, vừa mau mắn linh hoạt nói viết cho người ta thấy cái hay ho, cái ngộ nghĩnh của câu từ miệt xứ.
Tháng năm, công sức ấy đã kết trái lành. Đâu dễ dàng gì mà có được những tựa sách như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, để nơi cánh đồng ấy, Tư dựng nên thế giới lời ăn tiếng nói của người bình dân, gọn ghẽ, ngọt ngay, tự nhiên, nhuần nhuyễn. Chỉ có những người như ông giáo làng mới nhận ra tử huyệt của Chat, để không e ngại nó, để không bị nó thao túng, để nhận ra Chat chỉ là cỗ máy đang bắt chước ngôn ngữ của mình thôi. Ngôn từ đó dù chỉn chu, phức tạp, chính xác, vẫn không phải là tiếng nói thật của cuộc sống này.
Ngôn ngữ mạng của lớp trẻ đang làm xã hội tốn nhiều thời gian, quan ngại. Quan sát những biến thể, kể cả kỳ dị nhất, đều cho thấy đó là một dòng “phái sinh”, trên cái nền là ngôn ngữ chính thống, chính tả chính thống, cấu trúc từ vựng và cấu trúc câu chính thống. Nói, hay viết là để giao tiếp, để hiểu nhau, để chứng tỏ mình thuộc về một cộng đồng.
Các cộng đồng trẻ bao giờ cũng có sự nổi loạn, sáng tạo, phá vỡ các chuẩn mực cũ, cũng là chuyện bình thường thôi. Sáng tạo là không chịu ở yên trong một khuôn khổ trật tự cố định, là cự tuyệt chấp nhận trật tự do người khác áp đặt.
Có lần tôi nghe một cô gái miền Tây nói tên mình: “Em tên bù lon!” vậy mà người lạ hiểu liền: “Loan há em? Vậy chớ ở nhà kêu sao?. “Ở nhà kêu em con táng!” Đoạn đối đáp ngộ quá, nhớ hoài. Cứ nghe, cứ nhìn vậy đi, sẽ bớt đi lo lắng về những dị bản ngôn ngữ mạng.

Chỉ cần giữ cho thật vững, thật chắc cái gốc rễ, nền tảng của mình, rồi những biến thể nào đó, nếu còn lại được với thời gian, sẽ gia nhập vào hệ thống, những gì phù phiếm vô bổ sẽ trôi đi. Qua mấy lần thay đổi văn tự, tiếp biến từ khắp bốn phương nhưng vẫn giữ bản sắc riêng của mình, tiếng Việt đã chứng tỏ sức sống và sức phát triển mãnh liệt.
Đầu thế kỷ XX, tiếng Việt đã được coi là một ngôn ngữ hoàn chỉnh. Quá trình này chắc chắn không dừng lại. Ngôn ngữ sống cùng với đời sống của con người. Ngôn ngữ kiến tạo thực tại. Trước thực tại đang biến chuyển mạnh mẽ như hôm nay, cũng dễ hiểu thôi khi lời ăn tiếng nói của con người, nhất là những người trẻ, cũng cựa quậy, thay đổi.
Năm tháng trôi mau. Năm 2023, cả nước còn trên 734 ngàn người mù chữ, chiếm 1,15% dân số. Đọc tin nhắn hằng ngày, thấy lời ăn tiếng nói Bắc Nam đã hòa quyện lắm. Những “nha”, “nhé”, “ạ”, “mừ”… xuất hiện vô tư, được dùng thoải mái, chẳng còn phân biệt vùng miền.
Nhưng không phải lo xóa mờ bản sắc. Tin nhắn, hình thức viết của ngôn ngữ nói, vẫn đang có một khoảng cách nhất định với lời ăn tiếng nói mỗi ngày. Ai xa quê hương lâu ngày, chiều cuối năm về ăn Tết vẫn thấy tim mình thổn thức khi nghe tiếng chào quen thuộc, riêng xứ mình, như kéo theo một trời ký ức nhớ thương trở về cùng: “Chèng đéc ơi! Dữ thần hôn! Giờ mới dìa…”.
*Hình ảnh nằm trong loạt ảnh đời sống ở Nam bộ trong ấn bản Monographie dessineé del’Indochine – Ecole d’Art de Gia Dinh (Chuyên khảo về Đông Dương - Ấn bản của Trường Mỹ nghệ Gia Định) xuất bản năm 1935.
